Các bộ, ngành đã đơn giản hóa 765 TTHC được giao tại các nghị quyết chuyên đề của Chính phủ

Báo cáo về tình hình, kết quả cải cách TTHC tháng 4/2024, Văn phòng Chính phủ cho biết: đến nay các bộ, ngành đã đơn giản hóa 765 thủ tục hành chính (TTHC) được giao tại các nghị quyết chuyên đề của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, đạt 71%.

Về cải cách quy định TTHC

Kết quả kiểm soát quy định TTHC trong dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật

Trong tháng 4/2024, các bộ, ngành, địa phương đã đánh giá tác động 174 TTHC tại 19 dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), thực hiện thẩm định 190 TTHC quy định tại 14 dự thảo VBQPPL; có 09 bộ, cơ quan ban hành mới 42 TTHC, sửa đổi, bổ sung 57 TTHC và bãi bỏ 34 TTHC thuộc phạm vi quản lý tại 13 VBQPPL, có 01 địa phương ban hành mới 01 TTHC.

Văn phòng Chính phủ đã thực hiện thẩm tra đối với 91 TTHC, 01 quy định kinh doanh (QĐKD) tại 06 dự thảo Nghị định, trong đó, đề nghị không quy định 03 TTHC, 01 QĐKD, sửa đổi, bổ sung 85 TTHC.

Trong 4 tháng đầu năm 2024, có 593 TTHC tại 62 dự thảo VBQPPL được đánh giá tác động và 768 TTHC tại 75 dự thảo VBQPPL được thẩm định; có 232 TTHC, 12 QĐKD tại 19 VBQPPL được thẩm tra, trong đó đã đề nghị không quy định 13 TTHC, 01 QĐKD, sửa đổi, bổ sung 121 TTHC, 04 QĐKD (chiếm 57%).

Kết quả cắt giảm, đơn giản hóa quy định, TTHC

Về cắt giảm, đơn giản hóa QĐKD theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12/5/2020 của Chính phủ: Trong tháng 4/2024, Bộ Công Thương đã trình Chính phủ ban hành 01 Nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa 09 QĐKD, nâng tổng số QĐKD được cắt giảm trong 4 tháng đầu năm 2024 là 145 QĐKD. Tính từ năm 2021 đến nay, các bộ, cơ quan đã cắt giảm, đơn giản hóa 2.920 QĐKD tại 237 VBQPPL. 

Về phân cấp trong giải quyết TTHC theo Quyết định số 1015/QĐ-TTg ngày 30/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Trong tháng 4/2024, có 03 Bộ đã thực hiện phương án phân cấp 08 TTHC trong nội bộ các cơ quan tại 01 Nghị định và 02 Thông tư. Nâng tổng số TTHC đã được các bộ, ngành phân cấp trong 4 tháng đầu năm 2024 là 61 TTHC tại 07 Nghị định và 09 Thông tư. 

Từ năm 2022 đến nay, đã có 17/21 bộ, cơ quan thực hiện phân cấp 214/699 TTHC (không bao gồm 03 TTHC do các bộ tự chủ động phân cấp). Trong đó, 03 cơ quan đã thực hiện phân cấp đạt 100%, 05 Bộ đạt từ 50% trở lên, 09 Bộ đạt dưới 50%, 04 Bộ chưa thực hiện phân cấp theo phương án đã được phê duyệt. Tổng số TTHC còn tiếp tục phải thực hiện phân cấp là 485 TTHC (gồm: 184 TTHC được quy định tại 31 luật thuộc thẩm quyền của Quốc hội; 301 TTHC được quy định tại 132 văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ).

Về đơn giản hóa TTHC nội bộ theo Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 15/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ: Trong tháng 4/2024, có 02 Bộ đã công bố bổ sung 28 TTHC nội bộ tại 05 Quyết định, nâng tổng số TTHC nội bộ được công bố tại các bộ, ngành từ năm 2022 đến nay là 1.492 TTHC.

Về thực hiện 19 Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư: Trong tháng 4/2024, có 03 Bộ trình Chính phủ ban hành 02 Nghị định và ban hành theo thẩm quyền 01 Thông tư để thực thi phương án đơn giản hóa 18 TTHC, nâng tổng số TTHC thực thi trong 4 tháng đầu năm 2024 là 179 TTHC tại 20 VBQPPL.

Tính đến nay, các bộ, ngành đã đơn giản hóa 765 TTHC được giao tại các nghị quyết chuyên đề của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân liên quan đến quản lý dân cư, đạt 71%; có 07 Bộ, cơ quan đã hoàn thành thực hiện 100% phương án đơn giản hóa; 09 Bộ, cơ quan đạt trên 50%; 03 Bộ đạt dưới 50%.

Về cải cách việc thực hiện TTHC

Các chỉ số đánh giá chất lượng trong thực hiện TTHC, dịch vụ công

Chỉ số công khai, minh bạch trong thực hiện TTHC: Tại các bộ, ngành, tỷ lệ TTHC cập nhật, công khai đúng hạn đạt 28,57%, tỷ lệ đồng bộ, công khai quá trình giải quyết hồ sơ TTHC đạt 52,33% (3.126.644/5.974.608 hồ sơ); tại các địa phương, tỷ lệ TTHC cập nhật, công khai đúng hạn đạt 52,4%, tỷ lệ đồng bộ, công khai quá trình giải quyết hồ sơ TTHC đạt 69,97% (2.034.192/2.907.055 hồ sơ).

Chỉ số về tiến độ, kết quả giải quyết TTHC: Tỷ lệ hồ sơ TTHC xử lý đúng hoặc trước hạn tại bộ, ngành đạt 6,92% (216.363/3.126.644 hồ sơ) và tại các địa phương đạt 84,45% (1.717.875/2.034.192 hồ sơ).

Chỉ số về cung cấp dịch vụ trực tuyến: Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến tại các bộ, ngành đạt 41,24% (1.294.409/3.138.703 hồ sơ); tại các địa phương đạt 42,39% (888.878/2.034.192 hồ sơ). Tỷ lệ TTHC có giao dịch thanh toán trực tuyến tại các bộ, ngành đạt 45,77% (157/343 TTHC), tại các địa phương đạt 51,96% (624/1.201 TTHC); tỷ lệ hồ sơ thanh toán trực tuyến trên tổng số hồ sơ có yêu cầu nghĩa vụ tài chính tại các bộ, ngành đạt 45,47% (85.685/188.441 hồ sơ), tại các địa phương đạt 39,2% (676.007/1.724.319 hồ sơ).

Chỉ số về số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC: Tỷ lệ số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết TTHC tại các bộ, ngành đạt 41,14% (1.286.329/3.126.848 hồ sơ), tại các địa phương đạt 48,71% (990.854/2.034.192 hồ sơ); tỷ lệ hồ sơ cấp kết quả bản điện tử có giá trị pháp lý để tái sử dụng tại các bộ, ngành đạt 41,15%
(1.286.632 kết quả giải quyết TTHC/3.126.848 kết quả cần cấp), tại các địa phương đạt 53,66% (1.091.547 kết quả giải quyết TTHC/2.034.192 kết quả cần cấp); tỷ lệ khai thác, sử dụng lại thông tin dữ liệu số hóa tại các bộ, ngành đạt 1,3% (40671/3.128.538 hồ sơ), tại các địa phương đạt 11,53% (237167/2.056.955 hồ sơ).

Kết quả đánh giá chất lượng thực hiện TTHC, dịch vụ công trực tuyến

Trong tháng 4/2024, Bộ Quốc phòng có điểm đánh giá Khá, Bộ Tư pháp có điểm đánh giá Trung bình, các bộ, cơ quan còn lại đều có điểm đánh giá Dưới trung bình; 08 địa phương có điểm đánh giá Tốt (Cà Mau, Bình Định, Lâm Đồng, Lào Cai, Nam Định, Bình Dương, Bắc Giang, Cần Thơ), 22 địa phương có điểm Khá, 29 địa phương có điểm đánh giá Trung bình và 04 địa phương có điểm đánh giá Dưới trung bình.

Kết quả tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị

Về tiếp nhận và xử lý phản ánh, kiến nghị (PAKN) của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính: Trong tháng 4/2024, các bộ, ngành, địa phương đã tiếp nhận 4.525 PAKN của cá nhân, tổ chức về quy định và hành vi hành chính (tăng 303 PAKN so với tháng 3/2024) và có 28.731 PAKN từ tháng trước chuyển sang, nâng tổng số PAKN phải xử lý là 33.256 PAKN (trong đó, có 30.391 PAKN thuộc phạm vi xử lý của Bộ Công an). Các PAKN chủ yếu liên quan đến đăng ký thường trú, tạm trú, cấp hộ chiếu phổ thông, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,… 

Các bộ, ngành, địa phương đã xem xét, xử lý 2.739/33.256 PAKN (trong đó, các bộ, ngành đã xử lý 1.523/31.617 PAKN, các địa phương đã xử lý 1.216/1.639 PAKN).

Cơ quan thường trực Tổ công tác đã tiếp nhận 01 đề xuất, kiến nghị của thành viên Hội đồng tư vấn cải cách TTHC và chuyển đến cơ quan liên quan để xem xét, xử lý theo thẩm quyền (chưa bao gồm 19 đề xuất,
kiến nghị từ tháng trước chuyển sang). Các bộ, cơ quan đã nghiên cứu, trả lời 13/20 đề xuất, kiến nghị, đạt 65%, còn 02 Bộ (Tài chính, Y tế) chưa trả lời đối với 07 đề xuất, kiến nghị.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, công tác cải cách TTHC vẫn còn một số tồn tại, hạn chế sau:

Một là, việc phân cấp trong giải quyết TTHC theo Quyết định số 1015/QĐ-TTg ngày 30/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ chưa đáp ứng yêu cầu.

Hai là, việc rà soát, đơn giản hóa TTHC nội bộ trọng tâm ưu tiên theo Quyết định số 1085/QĐ-TTg ngày 15/9/2022 của Thủ tướng Chính phủ chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng. Hầu hết các bộ, cơ quan chưa gửi danh mục TTHC nội bộ thực hiện tại bộ, cơ quan, địa phương quy định tại văn bản bộ, cơ quan mình tham mưu ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền để Văn phòng Chính phủ tổng hợp, gửi bộ, địa phương công bố, rà soát, đơn giản hóa.

Ba là, việc khai thác, sử dụng lại thông tin dữ liệu số hoá mặc dù đã có cải thiện, tuy nhiên kết quả vẫn còn rất thấp.

Bốn là, công tác xử lý PAKN của cá nhân, tổ chức về quy định hành chính cũng như kiến nghị của doanh nghiệp, người dân theo yêu cầu của Tổ công tác cải cách TTHC của Thủ tướng Chính phủ tại một số bộ, ngành, địa phương chưa được quan tâm đúng mức.

Để tiếp tục triển khai có hiệu quả công tác cải cách TTHC, Văn phòng Chính phủ đề nghị các bộ, ngành, địa phương quán triệt, thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các quy định, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, trong đó tập trung triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm tháng 5/2024: 

Thứ nhất, tiếp tục thực hiện nghiêm việc kiểm soát các quy định về TTHC, yêu cầu, điều kiện kinh doanh, tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, chế độ báo cáo, danh mục hàng hóa kiểm tra chuyên ngành ngay trong quá trình xây dựng VBQPPL.

Thứ hai, các bộ, cơ quan ngang bộ tập trung rà soát, đề xuất phương án cắt giảm, đơn giản hóa giấy phép liên quan đến hoạt động kinh doanh tại Danh mục được ban hành kèm theo Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày 25/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, tiếp tục sửa đổi, bổ sung các VBQPPL thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ để tổ chức thực hiện phương án đơn giản hóa QĐKD, phân cấp trong giải quyết TTHC đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Thứ ba, tiếp tục thực thi phương án phân cấp trong giải quyết TTHC; triển khai các nhiệm vụ công bố, rà soát, đơn giản hóa TTHC nội bộ theo Quyết định số 104/QĐ-TTg ngày 25/01/2024 của Thủ tướng Chính phủ và Công văn số 1927/VPCP-KSTT ngày 25/3/2024 của Văn phòng Chính phủ.

Thứ tư, đẩy mạnh số hoá, kết nối, chia sẻ dữ liệu số hoá hồ sơ kết quả giải quyết TTHC để thực hiện nghiêm quy định người dân, doanh nghiệp chỉ cung cấp thông tin một lần, nhất là kết nối, tích hợp, đồng bộ thông tin tiếp nhận, xử lý hồ sơ giữa các Hệ thống thông tin giải quyết TTHC, cung cấp dịch vụ công trên môi trường điện tử do các bộ, ngành xây dựng, triển khai thực hiện tại các cấp chính quyền địa phương với Cổng Dịch vụ công Quốc gia và Hệ thống thông tin giải quyết TTHC cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ tại khoản 4 Điều 12 Nghị định số 42/2022/NĐ-CP.

Thứ năm, kịp thời tiếp nhận, xử lý PAKN của người dân, doanh nghiệp về khó khăn, vướng mắc trong thực hiện quy định, TTHC bảo đảm chất lượng, hiệu quả.

Thứ sáu, công khai kịp thời, đầy đủ kết quả đánh giá chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp theo Quyết định số  766/QĐ-TTg ngày 23/6/2022 của Thủ tướng Chính phủ trên Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công cấp bộ, cấp tỉnh, Cổng Thông tin điện tử của bộ, cơ quan, địa phương để tổ chức, cá nhân theo dõi, giám sát./.

Trí Đức (TC Tổ chức nhà nước)

...
  • Tags: