Hoàn thiện chính sách pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình

Luật Phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 21/11/2007, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008. Trong phạm vi bài viết này, các tác giả phân tích làm rõ những bất cập, nguyên nhân của những bất cập trong chính sách pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình và kiến nghị các giải pháp hoàn thiện.
Ảnh minh họa - Internet
1. Những bất cập của chính sách pháp luật về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
1.1. Về khái niệm trong Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
Khái niệm bạo lực gia đình được quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, đó là “hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”. Khái niệm “bạo lực gia đình” và “mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình” có nội hàm khác nhau, nhưng Luật hiện hành chưa giải thích rõ ràng sự khác biệt này, do đó dẫn đến chưa thống nhất khi xác định vụ việc bạo lực gia đình hoặc vụ việc mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình để áp dụng biện pháp xử lý phù hợp. Các khái niệm liên quan bạo lực gia đình như mức độ, hậu quả, gia đình/hộ gia đình/thành viên hộ gia đình, trục lợi và hỗ trợ khẩn cấp trong phòng, chống bạo lực gia đình, hình ảnh gây kích động bạo lực gia đình... cũng cần được giải thích cụ thể trong luật.
Hơn nữa, bạo lực gia đình xảy ra ở nhiều cấp độ khác nhau, nên cần có quy định hành vi bạo lực gia đình ở mức độ nào thì cần sự can thiệp của cơ quan có thẩm quyền; ngược lại chỉ được coi là các vụ xô xát sau cánh cửa, chưa cần sự can thiệp từ bên ngoài. Ở các địa phương, thông thường chỉ những hành vi ở mức độ nghiêm trọng mới được coi là bạo lực gia đình. Do đó, số vụ bạo lực gia đình được báo cáo, ghi nhận có thể thấp hơn nhiều so với thực tế?
1.2. Về nội dung, đối tượng, loại hình thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình
Trong thời gian qua, công tác thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình được nhiều cơ quan, tổ chức thực hiện và đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên, việc thông tin, tuyên truyền chủ yếu gắn với các sự kiện, như Tháng hành động quốc gia phòng, chống bạo lực gia đình; Ngày thế giới xóa bỏ bạo lực với phụ nữ. Số người hiểu được đúng các hành vi bạo lực cũng như hành vi vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế[1]. Các hình thức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống bạo lực gia đình chưa bắt kịp với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, chưa tận dụng được thế mạnh của truyền thông số để đến được với các nhóm đối tượng khó tiếp cận trực tiếp, nhóm đối tượng yếu thế, đặc biệt là phụ nữ ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới.
Nhận thức về bạo lực gia đình, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình còn hạn chế, dẫn đến việc phòng ngừa bạo lực gia đình cũng chưa hiệu quả. Một bộ phận người dân, thậm chí cán bộ quản lý không nắm được những quyền, nghĩa vụ của nạn nhân bạo lực gia đình, người gây bạo lực gia đình, và cho rằng bạo lực gia đình là chuyện riêng của mỗi gia đình. Nạn nhân khi đối mặt với các tình huống có thể dẫn đến bạo lực gia đình không biết mình phải làm gì, liên hệ với cơ quan chức năng nào để được hỗ trợ, bảo vệ. Mặt khác, nhiều thông tin về bạo lực gia đình được đề cập trên các phương tiện truyền thông đại chúng, chủ yếu là đưa tin về vụ việc bạo lực gia đình, chưa chú trọng đến công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức nhận diện các hành vi bạo lực gia đình, cũng như các kỹ năng phòng ngừa hành vi bạo lực gia đình. Một số trường hợp đưa tin quá chi tiết, tỷ mỷ về nạn nhân và người gây bạo lực gia đình. Điều này vừa không bảo đảm quyền riêng tư, bí mật của nạn nhân bạo lực gia đình, người gây bạo lực gia đình, vừa khiến nạn nhân phải chịu bạo lực kép (bạo lực gia đình và áp lực từ dư luận xã hội).
1.3. Về biện pháp bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình
Thứ nhất, các thủ tục hành chính và điều kiện để xử lý vụ việc bạo lực gia đình còn khá phức tạp, nhất là quy định về viết đơn, tố cáo. Nhiều nạn nhân bạo lực gia đình ngại tiếp xúc với chính quyền vì không biết trình bày vụ việc, thậm chí bị người gây bạo lực đe dọa nếu viết đơn hoặc tố cáo. Theo số liệu điều tra quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ (năm 2010), khoảng 44,2% phụ nữ ở khu vực thành thị và 47,5% phụ nữ ở nông thôn bị bạo lực nói rằng không có ai tìm cách giúp khi họ bị bạo lực gia đình. Đây cũng là lý do có tới 87,1% phụ nữ từng bị chồng bạo lực chưa bao giờ tìm đến bất kỳ cơ quan/tổ chức nào để được giúp đỡ. Giúp đỡ phụ nữ bị bạo lực gia đình chủ yếu là các thành viên gia đình (43,8%), tiếp đến là hàng xóm và bạn bè[2]. Việc can thiệp các vụ bạo lực gia đình hiện nay vẫn chủ yếu do gia đình, cộng đồng thực hiện. Vai trò của chính quyền, đoàn thể, đặc biệt là lực lượng công an ở cơ sở còn mờ nhạt, chưa rõ trách nhiệm. Việc áp dụng biện pháp bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình hiện nay cũng gặp rất nhiều khó khăn do vướng các thủ tục pháp lý. Báo cáo của các tỉnh, thành trên toàn quốc năm 2021, các xã/phường/thị trấn áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc 82 trường hợp. Trong khi đó, số bị phạt hành chính là 707, và số bị phạt tù là 80 trường hợp. Số vụ bạo lực gia đình bị xử phạt hành chính cao hơn gấp gần 9 lần số vụ cấm tiếp xúc đã làm giảm hiệu lực của nguyên tắc phòng, chống bạo lực gia đình - lấy phòng để chống. Các biện pháp cấm tiếp xúc cũng chưa thực sự bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình. Khi áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc thì nạn nhân thường là người phải ra khỏi nhà, trong khi họ thường là phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi. Từ đó, dẫn đến việc nạn nhân có thể phải chịu bạo lực kép từ gia đình và cả xã hội.
Thứ hai, các cơ sở trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình chưa hoạt động hiệu quả
- Cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình: Nạn nhân bạo lực gia đình khi đến cơ sở y tế được tiếp nhận và chăm sóc y tế giống như những bệnh nhân khác. Việc sàng lọc đối tượng bệnh nhân là nạn nhân bạo lực gia đình được ngành y tế triển khai từ năm 2009[3]. Mặt khác, Bộ Y tế cũng đang tiến hành thí điểm đưa nội dung chăm sóc nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở y tế vào chương trình học của sinh viên điều dưỡng; triển khai tài liệu hướng dẫn, đào tạo cho cán bộ và nhân viên y tế về chăm sóc, điều trị, sàng lọc các bệnh nhân là nạn nhân bạo lực gia đình. Tuy nhiên, việc tổng hợp, thống kê, báo cáo nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trên toàn quốc hiện nay gặp rất nhiều khó khăn;
- Cơ sở bảo trợ xã hội: Cũng gặp những vấn đề khó khăn như ngành y tế, ngành lao động-thương binh và xã hội cũng không có đủ thông tin về kết quả trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tại các cơ sở bảo trợ xã hội. Theo đó, những nạn nhân bạo lực gia đình khi đến các cơ sở bảo trợ xã hội không được phân loại đối tượng. Còn ở cấp xã, nạn nhân bạo lực gia đình thường được xếp vào nhóm bạo lực giới. Vì vậy, hiện nay cũng không có đủ thông tin để đánh giá về kết quả trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở bảo trợ xã hội;
- Cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình và Cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình: Chính phủ đã quy định chi tiết về điều kiện thành lập, giải thể, nội dung hoạt động của hai cơ sở này tại Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 02/2010/TT-BVHTTDL ngày 16/3/2010 (và Thông tư số 23/2014/TT-BVHTTDL sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 02/2010/TT-BVHTTDL) quy định chi tiết về thủ tục đăng ký hoạt động, giải thể cơ sở hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình; cơ sở tư vấn về phòng, chống bạo lực gia đình… Nhưng đến nay, việc thành lập hai cơ sở nói trên theo đúng quy định của pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình vẫn chưa được thực hiện. Có thể nói, đến nay trên toàn quốc vẫn chưa có một cơ sở nào được thành lập, mặc dù thực tế vẫn tồn tại một số cơ sở có chức năng hoạt động tương tự;
- Địa chỉ tin cậy ở cộng đồng: Kết quả các đợt kiểm tra, giám sát thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cho thấy, trong 5 loại hình trợ giúp nạn nhân bạo lực gia đình thì địa chỉ tin cậy ở cộng đồng được đánh giá là loại hình phù hợp nhất với điều kiện kinh tế-xã hội Việt Nam. Đây cũng là loại hình được nhiều cơ quan tập trung triển khai, đặc biệt là Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
Thứ ba, chưa xác định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương trong phòng, chống bạo lực gia đình, dẫn đến tình trạng thực thi pháp luật mang yếu tố cảm tính - phụ thuộc vào sự quan tâm của người đứng đầu. Một số nghiên cứu[4] cho thấy, những địa bàn có triển khai Mô hình phòng, chống bạo lực gia đình thì số vụ bạo lực gia đình giảm hơn so với những địa bàn không triển khai Mô hình. Tương tự như vậy, những địa bàn được quan tâm triển khai các hoạt động truyền thông sâu rộng về phòng, chống bạo lực gia đình thì ở đó các vụ bạo lực gia đình cũng ít xảy ra hơn. Kiểm tra công tác thi hành pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình cho thấy: đa số báo cáo của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp xã báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội hằng năm trước Hội đồng nhân dân (HĐND) cùng cấp chưa có nội dung về phòng, chống bạo lực gia đình. Mặc dù, quy định này đã được nêu rõ tại Điều 35 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình. Công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay chưa thực sự được cấp ủy Đảng, chính quyền một số địa phương quan tâm[5]. Một số UBND chưa nhận thức rõ trách nhiệm quản lý Nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình. Bạo lực gia đình thường bị che giấu đằng sau cánh cửa mỗi gia đình, vì vậy để nắm thông tin về bạo lực gia đình phải có mạng lưới cộng tác viên tại cộng đồng dân cư. Song, đến nay chỉ có 4/63 tỉnh thành có đội ngũ cộng tác viên thực hiện thu thập thông tin và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình. Đội ngũ công chức được giao triển khai nhiệm vụ về công tác phòng, chống bạo lực gia đình hiện nay theo hình thức kiêm nhiệm, chưa có công chức chuyên trách về phòng, chống bạo lực gia đình, đặc biệt cấp xã, phòng chống bạo lực gia đình không được giao trong nhiệm vụ chuyên môn[6].
1.4. Về vấn đề hòa giải
Hòa giải là một biện pháp được áp dụng để xử lý các mâu thuẫn, tranh chấp bao gồm cả mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình. Việc xử lý mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình từ sớm sẽ giúp giảm thiểu nguy cơ mâu thuẫn, tranh chấp thành bạo lực gia đình. Đây là quy định mang tính nhân văn đã được luật hóa trong Luật Hòa giải ở cơ sở. Tuy nhiên, việc hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình có những điểm khác biệt với hòa giải ở cơ sở. Nếu như đối với hòa giải ở cơ sở, việc hóa giải các mâu thuẫn, tranh chấp là biện pháp xử lý thì hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình chỉ là biện pháp phòng ngừa, bởi đích đến của hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình là để ngăn ngừa bạo lực gia đình. Song, do Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hiện hành và Luật Hòa giải ở cơ sở không phân định, làm rõ những yếu tố đặc thù này, đã dẫn đến tình trạng các địa phương áp dụng hòa giải là biện pháp xử lý vụ việc bạo lực gia đình. Điều này dẫn đến tình trạng những vụ đã hòa giải thì người có hành vi bạo lực gia đình không bị xử lý bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự; một số vụ việc xử lý người có hành vi bạo lực gia đình bằng biện pháp hành chính hoặc hình sự thì không thực hiện hòa giải. Trong quan hệ gia đình, thành viên khi bị xử phạt hành chính thậm chí là truy cứu trách nhiệm hình sự thì việc xử phạt đó chỉ giải quyết được mặt xử lý hành vi vi phạm mà không giải quyết được vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp dẫn đến vi phạm. Mặt khác, hòa giải trong phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ có Tổ hòa giải ở cơ sở thực hiện mà thành viên gia đình, dòng họ, cơ quan, tổ chức cũng có vai trò quan trọng trong hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình. Nếu mâu thuẫn, tranh chấp đã thành bạo lực gia đình thì việc hòa giải vẫn cần thực hiện để phòng ngừa bạo lực chu kỳ tiếp theo. Tuy nhiên, việc hòa giải phải không được coi là biện pháp xử lý, người có hành vi bạo lực gia đình ở mức độ nào thì phải xử lý theo quy định của pháp luật tương ứng với hành vi đó. Mặt khác, người tham gia hòa giải, đặc biệt là các hòa giải viên thuộc Tổ hòa giải ở cơ sở ngoài đáp ứng tiêu chí theo quy định của pháp luật về hòa giải cơ sở, thì cần phải được bồi dưỡng kiến thức pháp luật và bồi dưỡng chuyên sâu về phòng, chống bạo lực gia đình, nhạy cảm giới trong phòng, chống bạo lực gia đình.
Một bộ phận người dân và cán bộ chính quyền chưa phân biệt được trường hợp nào là bạo lực gia đình, trường hợp nào là mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình. Vì vậy, dù đã xảy ra bạo lực gia đình nhưng không ít vụ việc vẫn chỉ thực hiện hòa giải, mà không thực hiện biện pháp xử lý để răn đe, giáo dục người có hành vi bạo lực. Việc không áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với những vụ bạo lực gia đình dẫn đến tình trạng bạo lực gia đình kéo dài và để lại hậu quả nghiêm trọng. Theo quy định Luật, hòa giải không được thực hiện với vụ việc bạo lực gia đình đã xử lý hành chính hoặc hình sự. Điều này dẫn đến, các mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình không được giải quyết triệt để. Không ít trường hợp, người có hành vi bạo lực sau khi bị xử phạt hành chính vẫn tiếp tục có hành vi bạo lực gia đình.
2. Nguyên nhân của bất cập trong chính sách pháp luật về phòng ngừa bạo lực gia đình, bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân bạo lực gia đình
Thứ nhất: Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (BLGĐ) chỉ quy định mục đích, yêu cầu, nội dung và hình thức thông tin, tuyên truyền về phòng, chống BLGĐ (tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11) mà chưa có quy định về nguyên tắc của công tác này. Luật Phòng, chống BLGĐ hiện hành cũng thiếu các chính sách đa dạng hóa nội dung, đối tượng, loại hình thông tin, tuyên truyền về phòng, chống BLGĐ.
Thứ hai: Điểm a khoản 1 Điều 21 Luật Phòng, chống BLGĐ quy định điều kiện để áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc là phải “có đơn yêu cầu của nạn nhân BLGĐ, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền; trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền có đơn yêu cầu thì phải có sự đồng ý của nạn nhân BLGĐ”. Tại điểm c khoản 1 Điều 20 Luật Phòng, chống BLGĐ quy định “Người có hành vi BLGĐ và nạn nhân BLGĐ có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc”. Điều 9 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống BLGĐ quy định: “Người có hành vi BLGĐ và nạn nhân BLGĐ có nơi ở khác nhau trong thời gian cấm tiếp xúc”, nơi ở này “bao gồm nhà của người thân, bạn bè, địa chỉ tin cậy hoặc nơi ở khác mà nạn nhân BLGĐ tự nguyện chuyển đến ở”. Về yêu cầu “có đơn” và có nơi ở “nạn nhân BLGĐ tự nguyện chuyển đến” thực sự là một trở ngại rất lớn đến việc áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc. Tổng hợp các số liệu thống kê về tình hình BLGĐ trong 10 năm qua, có khoảng 80% nạn nhân BLGĐ là phụ nữ. Điều tra quốc gia BLGĐ với phụ nữ cho biết có 87,1% phụ nữ là nạn nhân BLGĐ đã không tìm đến sự hỗ trợ của chính quyền, đoàn thể[7]. Một trong những lý do là ngại tiếp xúc với chính quyền, mặt khác, có một số không thực sự tin tưởng chính quyền, đoàn thể có thể hỗ trợ được họ. Để được chính quyền bảo vệ, nạn nhân phải viết đơn đề nghị, ngoài lý do nêu trên thì có không ít nạn nhân không biết phải trình bày thế nào. Trong một số trường hợp, nạn nhân còn bị người có hành vi bạo lực hoặc người nhà ngăn cản, đe dọa nếu viết đơn hoặc tố cáo hành vi bạo lực với chính quyền. Đứng trước vấn đề khó khăn có hay không viết đơn, thường là có kết quả lựa chọn không và im lặng[8]. Bên cạnh quy định nạn nhân phải viết đơn, việc quy định phải có chỗ ở và nạn nhân tự nguyện chuyển đến cũng là trở ngại đến việc thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc. Hiện nay, nạn nhân BLGĐ chủ yếu là phụ nữ, khi đưa nạn nhân ra khỏi nhà thì có thể có con chưa trưởng thành của họ đi kèm. Thực tế đã có những trường hợp người gây BLGĐ dùng con chưa trưởng thành để gây áp lực với nạn nhân. Mặt khác, khi đưa nạn nhân BLGĐ là phụ nữ ra khỏi nhà thì nạn nhân lại có nguy cơ cao bị “bạo lực xã hội”. Mục đích của việc áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc là để bảo vệ an toàn cho nạn nhân. Song, quy định của pháp luật hiện hành chưa thực sự coi là biện pháp bảo vệ nạn nhân BLGĐ. Trong mối quan hệ gia đình, đôi khi người thực hiện hành vi BLGĐ còn có những toan tính, và việc đưa nạn nhân ra khỏi nhà có thể là kẽ hở của luật pháp nhằm giúp cho người gây bạo lực đạt được toan tính đó. Luật pháp của nhiều quốc gia trên thế giới quy định người có hành vi BLGĐ là người phải ra khỏi nhà trong thời gian cấm tiếp xúc. Việc ra quyết định cấm tiếp xúc đôi khi không cần đến đề nghị của nạn nhân mà cơ quan có thẩm quyền sẽ căn cứ vào tính chất của vụ việc mà áp dụng biện pháp như là một cách ngăn chặn từ xa nhằm bảo vệ nạn nhân cũng như những thành viên khác trong gia đình. Vì vậy, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi pháp luật, các quy định của pháp luật hiện hành về biện pháp cấm tiếp xúc cần phải được sửa đổi.
Thứ ba: Các cơ sở trợ giúp nạn nhân BLGĐ chưa phát huy được hiệu quả hoặc không được thành lập vì vướng mắc từ những quy định của Luật Phòng, chống BLGĐ. Cụ thể là, khoản 6 Điều 8 quy định cấm “Lợi dụng hoạt động phòng, chống BLGĐ để trục lợi hoặc thực hiện hoạt động trái pháp luật”. Khoản 1 và khoản 2 Điều 6 quy định “1. Hằng năm, Nhà nước bố trí ngân sách cho công tác phòng, chống BLGĐ. 2. Khuyến khích cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia, tài trợ cho hoạt động phòng, chống BLGĐ; phát triển các mô hình phòng ngừa BLGĐ và hỗ trợ nạn nhân BLGĐ.” Tuy nhiên, việc không quy định rõ những trường hợp nào được coi là lợi dụng hoạt động phòng, chống BLGĐ để trục lợi, đã không khuyến khích được xã hội hóa nguồn lực tài chính cho công tác này. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Luật Phòng, chống BLGĐ, Chính phủ đã quy định chi tiết và hướng dẫn hoạt động trợ giúp nạn nhân của các cơ sở trợ giúp nạn nhân BLGĐ, tại Chương 5 Nghị định số 08/2009/NĐ-CP ngày 04/02/2009, trong đó, điểm đáng chú ý là để thành lập cơ sở nói trên thì phải đáp ứng điều kiện như có diện tích tối thiểu 30m2, có các cơ sở vật chất tối thiểu, nhân viên phải có chứng nhận về phòng, chống BLGĐ. Quy định về tiêu chuẩn diện tích phòng, trình độ nghiệp vụ của nhân viên,... cũng khiến không chỉ những tổ chức, cá nhân muốn tham gia thành lập cơ sở nói trên, mà ngay cơ quan chuyên môn ở cấp tỉnh cũng vướng mắc trong quá trình tham mưu, thực hiện. Mặt khác, điều kiện đảm bảo, đặc biệt là kinh phí cũng không được hỗ trợ như quy định của pháp luật hiện hành. Các cơ sở khám bệnh, cơ sở chữa bệnh hiện nay cũng chưa có kinh phí dự phòng để trợ giúp nạn nhân BLGĐ, các nhân viên y tế cũng chưa được đào tạo chuyên môn chăm sóc sức khỏe cho bệnh nhân là nạn nhân BLGĐ; Cơ sở bảo trợ xã hội cũng gặp tình trạng tương tự, việc quy định thêm đối tượng tham gia hoạt động bảo trợ xã hội nhưng không có những quy định đặc thù, cũng như chính sách về tài chính, về đào tạo nhân lực dẫn đến việc hỗ trợ nạn nhân BLGĐ chưa hiệu quả. Các chính sách của Nhà nước với địa chỉ tin cậy ở cộng đồng đến nay hầu như chưa được các địa phương thực hiện.
Thứ tư: Luật chỉ quy định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức (quy trách nhiệm tập thể), trong khi đó, các hoạt động thực tiễn cần phát huy vai trò của người đứng đầu cơ quan, tổ chức. BLGĐ không phải là vấn đề mới, nhưng công tác về phòng, chống BLGĐ, đặc biệt là quản lý Nhà nước về phòng, chống BLGĐ còn khá mới với nhiều cơ quan, tổ chức. Việc bố trí kinh phí để thi hành Luật còn rất hạn hẹp, có những địa phương hầu như không có. Mặt khác, ở địa phương nào, người đứng đầu chính quyền quan tâm đến việc thực thi pháp luật về phòng, chống BLGĐ thì ở đó các hoạt động phòng, chống BLGĐ được triển khai đồng bộ và đem lại những kết quả tích cực. Vì vậy, cần phải quy định rõ trách nhiệm và biện pháp xử lý đối với người đứng đầu trong phòng, chống BLGĐ.
Thứ năm: Luật Phòng, chống BLGĐ không quy định rõ những trường hợp thế nào thì được gọi là mâu thuẫn, tranh chấp trong gia đình, những trường hợp nào được coi là hành vi BLGĐ. Cụ thể như sau:
- Khoản 2 Điều 1 định nghĩa nội hàm khái niệm BLGĐ khá rộng, nhưng tại Khoản 1 Điều 2 chỉ quy định 9 hành vi BLGĐ, chưa phản ánh được hết thực tiễn đã và đang diễn ra. Điều này dẫn đến cách hiểu khác nhau về BLGĐ cũng như nhận diện hành vi BLGĐ. Không nhận diện được đúng, đầy đủ hành vi BLGĐ dẫn đến sự thiếu thống nhất khi thực hiện các biện pháp phòng, chống BLGĐ ở các địa phương.
- Khoản 7 Điều 12 quy định không hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp khi “Vụ việc thuộc tội phạm hình sự, trừ trường hợp người bị hại yêu cầu không xử lý theo quy định của pháp luật hình sự; Vụ việc thuộc hành vi vi phạm pháp luật bị xử lý hành chính”. Song gia đình là đối tượng đặc thù nên cần thực hiện hòa giải ngay cả khi bạo lực đang diễn ra (Hòa giải ngăn chặn BLGĐ tái diễn) và những vụ việc sau khi đã xử lý hành chính hoặc hình sự nhằm hạn chế tối đa những mẫu thuẫn giữa các thành viên gia đình để ngăn ngừa hành vi BLGĐ (chu kỳ sau), hoặc giữa những thành viên khác với nhau.
Luật hiện hành chưa có quy định về tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ đối với các hòa giải viên thực hiện hòa giải trong phòng, chống BLGĐ. Thành viên tổ hòa giải trong phòng, chống BLGĐ không chỉ là người hiểu biết pháp luật, có uy tín ở cộng đồng dân cư mà còn là người phải có những kiến thức về giới và phòng, chống BLGĐ. Để nâng cao hiệu quả của công tác hòa giải thì cần thiết phải quy định rõ tiêu chuẩn cho những hòa giải viên ở cộng đồng[9].
3. Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật[10]
3.1. Sửa đổi, bổ sung, làm rõ các khái niệm
Điều 3 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
Điều 3. Giải thích từ ngữ
Trong Luật này các từ ngữ sau đây được hiểu như sau:
1. Bạo lực gia đình là hành vi cố ý gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế, tình dục đối với thành viên khác trong gia đình.
2. Bạo lực gia đình trên cơ sở giới là hành vi cố ý gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế, tình dục dựa trên định kiến về giới.
3. Người có nguy cơ cao gây bạo lực gia đình là người có một trong các biểu hiện, hoàn cảnh sống sau:
a) Đã từng có hành vi bạo lực gia đình;
b) Có định kiến giới;
c) Nghiện rượu, bia, ma tuý và các chất gây nghiện khác;
d) Nghiện cờ bạc, game bạo lực, văn hoá phẩm đồi truỵ;
đ) Sống trong môi trường thường xuyên có bạo lực gia đình, có nhiều hủ tục cổ xúy cho bạo lực;
e) Người không kiểm soát được hành vi bạo lực.
4. Cấm tiếp xúc là biện pháp cấm người có hành vi bạo lực gia đình đến gần người bị bạo lực gia đình; hoặc không đến gần nhưng sử dụng các phương tiện để thực hiện hành vi bạo lực gia đình.
5. Phát tán thông tin về đời tư của người bị bạo lực gia đình là hành vi truyền bá thông tin về nhân thân, chỗ ở, nơi làm việc khi chưa được sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình hoặc của người đại diện theo pháp luật của người đó.”.
3.2. Quy định cụ thể về các nội dung liên quan đến công tác thông tin, tuyên truyền trong phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 14 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
"Điều 14. Mục đích, yêu cầu trong thông tin, truyền thông, giáo dục.
1. Thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình nhằm nâng cao nhận thức, định hướng hành vi ứng xử, góp phần tiến tới xoá bỏ bạo lực gia đình.
2. Việc thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình phải bảo đảm các yêu cầu sau đây:
a) Thường xuyên, chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực;
b) Phù hợp với từng đối tượng, trình độ, lứa tuổi, giới tính, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn giáo, vùng miền;
c) Bảo đảm bình đẳng giới, không làm ảnh hưởng đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của người bị bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình;
d) Chú trọng đến người sống trong gia đình có người có nguy cơ cao gây bạo lực gia đình, phụ nữ có thai, phụ nữ nuôi con nhỏ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, người mắc bệnh hiểm nghèo; người sống ở vùng có điều kiện kinh tế-xã hội khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số;
đ) Ngôn ngữ, hình ảnh sử dụng trong thông tin, truyền thông, giáo dục về phòng, chống bạo lực gia đình phải phù hợp với từng nhóm đối tượng cụ thể, các hình ảnh phải bảo đảm an toàn, bí mật đời tư khi đăng hình ảnh nhân vật để làm tư liệu thông tin, truyền thông, giáo dục.”.
3.3. Tăng cường biện pháp và sự hiệu quả trong bảo vệ nạn nhân bạo lực gia đình và chất lượng hòa giải, tư vấn trong phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 30 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
“Điều 30. Biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình và bảo vệ, hỗ trợ người bạo lực gia đình
1. Các biện pháp ngăn chặn hành vi bạo lực gia đình:
a) Buộc chấm dứt ngay hành vi bạo lực gia đình;
b) Yêu cầu người có hành vi bạo lực gia đình đến trụ sở Công an cấp xã nơi xảy ra vụ việc bạo lực gia đình;
c) Cấm tiếp xúc;
d) Các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính hoặc các biện pháp ngăn chặn, bảo vệ người bị hại theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự đối với người có hành vi bạo lực gia đình.
2. Các biện bảo vệ người bị bạo lực gia đình:
a) Bố trí nơi tạm lánh khi người bị bạo lực gia đình, người thân thích của họ có nguy cơ bị xâm hại đến tính mạng, sức khỏe;
b) Các biện pháp bảo vệ khác theo quy định của pháp luật.
3. Các biện pháp hỗ trợ người bị bạo lực gia đình:
a) Chăm sóc người bị bạo lực gia đình;
b) Hỗ trợ khẩn cấp chỗ ở tạm thời và các nhu cầu thiết yếu tối thiểu;
c) Tư vấn tâm lý, trợ giúp pháp lý và kỹ năng để ứng phó với bạo lực gia đình.
4. Trường hợp vụ việc bạo lực gia đình có tính chất nghiêm trọng đe dọa đến tính mạng, sức khoẻ của người bị bạo lực gia đình hoặc trường hợp người bị bạo lực gia đình là trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ mà phải can thiệp kịp thời thì người có thẩm quyền phải áp dụng ngay các biện pháp cần thiết để giải cứu và bảo vệ người bị bạo lực gia đình.”.
3.4. Sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục hành chính và điều kiện xử lý vụ việc bạo lực gia đình; các quy định về cấm tiếp xúc
Điều 33 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
Điều 33. Cấm tiếp xúc theo quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi xảy ra bạo lực gia đình quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc mỗi lần không quá 3 ngày khi có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người bị bạo lực gia đình, người giám hộ hoặc người đại diện hợp pháp yêu cầu cấm tiếp xúc, trường hợp cơ quan, tổ chức có thẩm quyền yêu cầu thì phải có sự đồng ý của người bị bạo lực gia đình;
 b) Hành vi bạo lực gia đình gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại đến sức khỏe hoặc đe dọa tính mạng của người bị bạo lực gia đình.
Trường hợp người bị bạo lực gia đình là trẻ em, việc áp dụng biện pháp cấm người có hành vi bạo lực gia đình tiếp xúc với trẻ em được thực hiện theo quy định của pháp luật về trẻ em.
2. Chậm nhất trong 12 giờ, kể từ khi nhận được yêu cầu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã xem xét, quyết định áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc; trường hợp không ra quyết định thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho cơ quan, tổ chức, người yêu cầu biết.
Quyết định cấm tiếp xúc có hiệu lực ngay sau khi ký và được gửi cho người có hành vi bạo lực gia đình, người bị bạo lực gia đình, Trưởng công an cấp xã, công an quản lý khu vực và Trưởng thôn, Tổ trưởng tổ dân phố nơi cư trú của người bị bạo lực gia đình.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra quyết định cấm tiếp xúc là người thực hiện huỷ bỏ quyết định đó khi có yêu cầu của người bị bạo lực gia đình hoặc khi thời hiệu áp dụng quyết định cấm tiếp xúc đã hết.
4. Khi áp dụng quyết định cấm tiếp xúc, người bị bạo lực gia đình được quyền lựa chọn chỗ ở trong thời gian cấm tiếp xúc.
5. Người bị cấm tiếp xúc phải giữ khoảng cách với người bị bạo lực gia đình trong suốt thời gian áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc từ 50m trở lên, trường hợp có vật ngăn cách bảo đảm an toàn cho người bị bạo lực gia đình thì không áp dụng khoảng cách tối thiểu.
6. Người có hành vi bạo lực gia đình vi phạm quyết định cấm tiếp xúc bị áp dụng biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính để ngăn chặn bạo lực gia đình. Khuyến khích việc ứng dụng công nghệ để hỗ trợ giám sát thực hiện biện pháp cấm tiếp xúc.
7. Trong trường hợp gia đình có đám cưới, đám tang hoặc các trường hợp đặc biệt khác, người có hành vi bạo lực gia đình và người bị bạo lực gia đình tiếp xúc với nhau thì người có hành vi bạo lực gia đình phải báo cáo với người ban hành quyết định cấm tiếp xúc để được tiếp xúc dưới sự quản lý của công an cấp xã nơi xảy ra tiếp xúc giữa người bị cấm tiếp xúc với người bị bạo lực gia đình.”.
3.5. Bổ sung quy định trách nhiệm của người đứng đầu các cơ quan, tổ chức và chính quyền địa phương đối với nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 53 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
"Điều 53. Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình"
1. Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình; báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Luật Phòng, chống bạo lực gia đình hai lần trong một nhiệm kỳ.
2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình và điều phối liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia đình.
3. Các Bộ, cơ quan ngang bộ có trách nhiệm tham gia thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình.
4. Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình tại địa phương.
5. Người đứng đầu cơ quan quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình, cơ quan tham gia quản lý nhà nước về phòng, chống bạo lực gia đình chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Hội đồng nhân dân cùng cấp về kết quả phòng, chống bạo lực gia đình theo phân cấp.”.
3.6. Quy định rõ nội dung quản lý nhà nước, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong phòng, chống bạo lực gia đình
Điều 56 Luật Phòng, chống BLGĐ nên sửa đổi như sau:
“Điều 56. Trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp
1. Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, kế hoạch, chỉ tiêu về phòng, chống bạo lực gia đình.
2. Thực hiện trách nhiệm phòng, chống bạo lực gia đình theo quy định của pháp luật và phân công, phân cấp của cơ quan có thẩm quyền.
3. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình, lồng ghép nội dung phòng, chống bạo lực gia đình trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của địa phương.
4. Ban hành theo thẩm quyền chính sách, pháp luật bảo đảm thực hiện quyền của tổ chức, cá nhân trong phòng, chống bạo lực gia đình phù hợp với đặc điểm, điều kiện của địa phương.
5. Thực hiện điều phối liên ngành trong phòng, chống bạo lực gia đình; khuyến khích xã hội hóa phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn quản lý.
6. Tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân ngoài nhà nước tham gia cung cấp các dịch vụ phát hiện, ngăn chặn, bảo vệ, hỗ trợ người bị bạo lực gia đình, giáo dục người có hành vi bạo lực gia đình, hỗ trợ kiểm soát hành vi bạo lực gia đình trên địa bàn quản lý.
7. Bố trí kinh phí, nhân lực đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bản quản lý theo quy định của Luật này.
8. Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm về kết quả phòng, chống bạo lực gia đình trên địa bàn quản lý theo quy định của Luật này; hằng năm thực hiện đối thoại với người có hành vi bạo lực gia đình và người bị bạo lực gia đình; phân công người giúp đỡ, động viên những người có hành vi bạo lực gia đình.
9. Hằng năm thực hiện báo cáo, giải trình Hội đồng nhân dân cùng cấp kết quả phòng, chống bạo lực gia đình.”.
Việc sửa đổi, bổ sung, làm rõ nội hàm của khái niệm BLGĐ và các khái niệm liên quan; các quy định về nội dung, đối tượng, loại hình thông tin, tuyên truyền; các quy định xử lý vụ việc BLGĐ, cấm tiếp xúc; bổ sung các biện pháp đảm bảo nhằm hỗ trợ các cơ sở trợ giúp/hỗ trợ nạn nhân BLGĐ hoạt động; các biện pháp hỗ trợ nạn nhân tái hòa nhập gia đình, cộng đồng, quy định rõ trách nhiệm của người có hành vi BLGĐ đối với hậu quả do mình gây ra; bổ sung quy định về hòa giải trong phòng, chống BLGĐ; là các giải pháp có nhiều tác động tích cực, đó là:
Tác động về kinh tế: BLGĐ gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất và tinh thần của nạn nhân. Các chi phí chăm sóc sức khỏe phát sinh do BLGĐ gây ra làm thiệt hại kinh tế gia đình, kinh tế quốc gia. Mặt khác, các hệ luỵ khác như suy giảm năng suất lao động; suy giảm sức khỏe; tăng chi phí thời gian nghỉ lao động,... cũng gây ra những thiệt hại không nhỏ. Vì vậy, xác định rõ hành vi BLGĐ, tính chất, mức độ từng hành vi sẽ nâng cao hiệu quả biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn BLGĐ, giảm các chi phí khắc phục hậu quả do BLGĐ gây ra, từ đó thúc đẩy kinh tế gia đình, kinh tế đất nước phát triển.
Tác động về xã hội: Khắc phục được những vấn đề bất cập trong Luật Phòng, chống BLGĐ sẽ thúc đẩy công tác phòng, ngừa BLGĐ, từ đó tác động trực tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi BLGĐ; Tạo được sự đồng thuận xã hội trong phòng, chống BLGĐ từ đó ngăn ngừa sớm được những nguy cơ BLGĐ, hạn chế các vụ BLGĐ và giữ gìn gia đình bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc; Nếu Luật được sửa đổi phù hợp với thực trạng xã hội hiện tại, góp phần bảo vệ người bị bạo lực, có biện pháp mạnh răn đe người gây ra bạo lực, công tác hòa giải được chú trọng và nâng cao về chất lượng, tăng cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cho nạn nhân BLGĐ, bảo đảm an toàn cho nạn nhân BLGĐ thì sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống chính trị - xã hội, và sự công bằng của pháp luật;
Tác động về hệ thống pháp luật: Tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật, đảm bảo tính nghiêm minh, công bằng của pháp luật.
Tác động về thủ tục hành chính: Đơn giản thủ tục hành chính trong việc thành lập các cơ sở hỗ trợ nạn nhân BLGĐ, góp phần xây dựng nền hành chính công năng động, tích cực. Hoàn thiện hệ thống hành chính công về công tác gia đình.
Tác động về giới: Thúc đẩy bình đẳng giới và tạo môi trường thân thiện, bình đẳng giữa các thành viên trong gia đình.
Đây là các giải pháp có tính khả thi cao, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và thông lệ quốc tế, việc thực hiện có hiệu quả chính sách này sẽ góp phần bảo vệ cho nạn nhân BLGĐ và hỗ trợ công tác phòng, chống BLGĐ, đáp ứng với những thay đổi của xã hội trong tình hình mới./.
 

TS. ĐỖ ĐỨC HỒNG HÀ

Ủy ban Tư pháp của Quốc hội,

THS. NGUYỄN THỊ THU TRANG

Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa

 

[1] Sau hơn 10 năm triển khai Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, kết quả điều ra năm 2019 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa thực hiện cho thấy còn bộ phận không nhỏ người dân chưa nhận diện được đúng những hành vi bạo lực gia đình.
[2] Tổng cục Thống kê (2010), Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam, https://www.gso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2020/10/nghien-cuu-quoc-gia-ve-bao-luc-gia-dinh-doi-voi-phu-nu-o-viet-nam/.

(3) Xem: Thông tư số 16/2009/TT-BYT ngày 22/9/2009 của Bộ Y tế hướng dẫn việc tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; và Thông tư số 24/2017/TT-BYT ngày 17/5/2017 quy định quy trình tiếp nhận, chăm sóc y tế và thống kê, báo cáo đối với người bệnh là nạn nhân bạo lực gia đình tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; thay thế cho Thông tư số 16/2009/TT-BYT đã hết hiệu lực.

[4] Đặng Thị Hoa chủ biên (2020), Bạo lực gia đình ở Việt Nam: Thực trạng và các yếu tố tác động, Nxb. Khoa học xã hội.
[5] Theo Sở Văn hóa, Thể thao tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Cấp ủy, chính quyền nhất là ở cơ sở ở một số nơi chưa nhận thực đầy đủ về tầm quan trọng của công tác gia đình và phòng, chống bạo lực gia đình, thể hiện thông qua việc thiếu quan tâm trong công tác cán bộ, công tác xây dựng kế hoạch, bố trí nguồn lực… nên trách nhiệm trong quản lý về lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình chưa cao”, Hội nghị Tổng kết 10 năm thi hành Luật Phòng, chống bạo lực gia đình.
[6] Theo thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.
[7] Tổng cục Thống kê (2010), Nghiên cứu quốc gia về bạo lực gia đình với phụ nữ ở Việt Nam.
[8] Tlđd.
[9] Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2022), Báo cáo số 84/BC-BVHTTDL ngày 28/3/2022 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đánh giá tác động của chính sách về dự án Luật Phòng, chống bạo lực gia đình (sửa đổi).
[10] Phần in đậm là phần sửa đổi so với Luật hiện hành.