Sự bùng nổ dân số đi liền với “bùng nổ đô thị hóa” ở các nước đang phát triển vẫn có xu hướng gia tăng. Nhịp độ đô thị hóa cao kéo theo sự phát triển không cân đối giữa các khu vực thành thị và nông thôn, gây ra sức ép đối với các vấn đề kinh tế - xã hội bên cạnh áp lực dân số… Vì vậy, vấn đề quản lý đô thị hiệu quả được đặt ra như một nhiệm vụ trọng tâm ở các đô thị lớn tại các quốc gia đang phát triển. Việt Nam ta cũng vậy.
Tham khảo và học hỏi kinh nghiệm quản lý đô thị của các quốc gia trên thế giới cũng là điều nên làm, có thể giúp cho công tác quản lý đô thị được tốt hơn.
Singapore: Quy hoạch sáng tạo, thiết kế thông minh và phát triển bền vững
Trong các cuộc điều tra khác nhau từ nhỏ đến lớn, Singapore đã liên tục được các chuyên gia hàng đầu thế giới xếp hạng là đô thị đáng sống, phát triển bền vững và sống tốt trên toàn cầu.
Các nhà quản lý đô thị Singapore quan niệm “đô thị hóa là quá trình tất yếu và là thách thức cho các doanh nghiệp tạo dựng nên hình ảnh đô thị thịnh vượng, chất lượng sống tốt, nhưng vẫn phải đảm bảo yếu tố bền vững với thời gian”.
Có thể nói, quy hoạch sáng tạo, thiết kế thông minh, quản lý và phát triển đô thị bền vững của Singapore là kinh nghiệm quý báu mà các nước trên thế giới có thể học hỏi. Đó là bài học về một quốc gia có tốc độ đô thị hóa nhanh, nhưng lại mang đến cho người dân cuộc sống chất lượng, đảm bảo phát triển bền vững.

Đô thị ở Singapo luôn được đánh giá là văn minh, hiện đại và môi trường tốt
Singapore có được cảnh quan đô thị văn minh, hiện đại và “thân thiện môi trường” như ngày nay, trước hết là nhờ vào quy hoạch tổng thể 1/5.000 có từ rất sớm (năm 1971) và được thực hiện cho đến nay. Quy hoạch tổng thể Singapore được phân ra từng khu nhà cao tầng (trên 10 tầng), cao trung bình (3-10 tầng) và thấp tầng (1-2 tầng) và có tính đến bảo tồn kiến trúc cổ cũng như bản sắc văn hóa của 4 tộc người (bản địa, Hoa, Malaysia và Ấn Độ). Bản quy hoạch tổng thể cũng thể hiện việc kết nối hạ tầng (nước sạch, thoát nước, xử lý nước thải, điện, điện thoại…) do nhà nước đầu tư. Do tập trung phát triển ngành công nghiệp sạch nên Singapore xây dựng các khu đô thị vệ tinh để giảm chi phí đi lại, tiết kiệm trong sinh hoạt và giải quyết lao động tại chỗ.
Đưa thiên nhiên gần gũi với con người là chủ trương của quản lý đô thị. Tôn trọng thiên nhiên, hòa quyện thiên nhiên vào đô thị để giúp đô thị được “mềm mại hóa” các khía cạnh “thô cứng” của một khung cảnh đô thị với hàng loạt cao ốc. Bằng cách áp dụng các chiến lược như “vườn trong phố”, “vườn tường”, “vườn mái”, “vườn ở bất cứ đâu”… Singapore hiện đang có độ che phủ bằng cây xanh thuộc hạng cao nhất thế giới. Bên cạnh đó, Singapore đã tìm cách phát huy tối đa tiềm năng của không gian công cộng bằng cách kết hợp hiệu quả giữa các hoạt động thương mại và giải trí để mang lại sự hài lòng cho người dân.
Ngay từ khi triển khai thực hiện quy hoạch chung phát triển Singapore (1960-1970), Chính phủ nước này đã có hàng loạt chương trình tuyên truyền cho người dân thực hiện nếp sống văn minh tại các khu công cộng, chung cư cao tầng, phân tích những mặt thuận lợi khi ở nhà cao tầng, từ đó tạo dần thói quen cho người dân sống trong chung cư cao tầng. Tất cả nhà cửa, đường phố, cây cối, xe cộ… đều sạch sẽ, không có rác thải nhờ các quy định chặt chẽ của pháp luật và người dân nơi đây ý thức đến mức có thể gọi là văn minh tự giác trong mọi sinh hoạt đời sống. Chính từ ý thức tự giác này mà Chính phủ Singapore tiết kiệm được rất nhiều chi phí để ngăn chặn ô nhiễm môi trường, xử lý rác thải hay vi phạm.
Singapore cũng đã ứng dụng chiến lược năng lượng thấp trong các tòa nhà, đồng thời phát triển hệ thống giao thông công cộng hiệu quả. Đây chính là chiến lược tổng thể nhằm giảm tiêu thụ năng lượng và đảm bảo phát triển bền vững. Singapore có sự kết hợp rải rác giữa các tòa nhà cao tầng với các tòa nhà thấp tầng, tạo ra một dải chân trời nhấp nhô nhưng không lộn xộn để tạo cảm giác bớt đông đúc trong một không gian chật hẹp.
Nhật Bản: Phát triển đô thị hài hòa với môi trường, giảm thiểu carbon
Nhật Bản đã phải đối mặt với thời kỳ kinh tế tăng trưởng cao do dân số gia tăng quá nhanh, tập trung tại các đô thị lớn nên tình trạng đô thị phát triển tràn lan, tự phát đã xảy ra. Đối phó với tình trạng này, Nhật Bản đã đưa ra phương án hạn chế mở rộng và kiểm soát mở rộng đô thị, đưa ra kế hoạch xây dựng hạ tầng đô thị bằng hệ thống phân chia thành các khu vực, bao gồm khu vực điều chỉnh đô thị, khu vực hóa đô thị, mở rộng khu vực đô thị hóa.
Nhật Bản mở rộng và phát triển đô thị bằng cách xây dựng các khu đô thị mới. Với mục tiêu phát triển đô thị hài hòa với môi trường, hiện nay Nhật Bản đã đạt được các thành tựu trong việc xây dựng các mô hình đô thị thông minh, đô thị xanh và sinh thái. Các dự án phát triển đô thị gồm: Dự án phát triển khu dân cư đô thị và các dự án xây dựng hạ tầng. Các dự án này đều yêu cầu đảm bảo chất lượng môi trường đô thị và làm hài lòng các nhóm lợi ích tham gia phát triển. Dự án phát triển khu dân cư đô thị được phân thành 2 loại: Dự án phát triển đô thị mới gắn với các khu công nghiệp, khu kinh tế và dự án tái phát triển khu dân cư hiện có. Dự án góp phần chính xác hoá các bản quy hoạch chung đô thị, trên nền tảng các dự án được xác định theo thứ tự ưu tiên, việc lập dự án khả thi được tiến hành. Trong các khu vực lập dự án, việc cấp giấy phép chuyển đổi chức năng sử dụng đất, đền bù giải phóng mặt bằng tới việc xây dựng công trình kiến trúc đều được coi trọng.

Một góc thủ đô Tokyo Nhật Bản
Với xu hướng dân số giảm hiện nay và trong tương lai, Nhật Bản sẽ xây dựng đô thị nhỏ gọn, thân thiện môi trường, giảm lượng carbon (CO2), nâng cao sự tiện lợi của giao thông công cộng và phát triển đô thị trung tâm, đồng thời tiến hành chiến lược thông minh, thu gọn các vùng ngoại ô, đạt được đô thị bền vững. Mới đây, Chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi giảm 25% lượng khí thải nhà kính vào năm 2020, thông qua việc đưa ra chính sách thuế carbon để quyết tâm giảm phát thải carbon xuống mức thấp nhất tại các thành phố lớn.
Sự phát triển đô thị của Nhật Bản hướng tới đô thị hài hòa thân thiện với môi trường được thể hiện rõ ở Tokyo. Thành phố Tokyo được quy hoạch với tầm nhìn và mục tiêu phát triển về hạ tầng, môi trường, an ninh, văn hóa, du lịch và công nghiệp trình độ cao. Để thực hiện quy hoạch và đạt được mục tiêu đề ra, chính quyền Tokyo đã thiết lập Trung tâm “Xây dựng thành phố giảm thiểu carbon” và “Xây dựng đô thị xanh” để lập và tiến hành các dự án chiến lược chính.
Tokyo đã triển khai một số dự án/chương trình điển hình như: Chiến lược sử dụng các công nghệ tiết kiệm năng lượng; Đô thị sử dụng tối đa hóa năng lượng tái tạo; Xây dựng hệ thống giao thông bền vững; Phát triển các công nghệ môi trường mới và tạo lập lĩnh vực kinh doanh về môi trường, chuyển dịch sang giảm thiểu carbon.
Một dự án trọng tâm là phục hồi cảnh quan Tokyo dựa trên yếu tố mặt nước và các hành lang xanh. Dự án này góp phần tạo dựng việc kết nối các không gian xanh hiện hữu cũng như phát triển thêm các không gian xanh mới. Có thể nói, tại Nhật Bản, chính quyền thủ đô Tokyo đã đi trước Chính phủ trong việc thiết lập nhiều chính sách kiểm soát ô nhiễm, nhằm giảm phát thải khí nhà kính. Tokyo đã kêu gọi giảm 30% lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2020 và 80% vào năm 2050, giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch bằng cách thiết lập những khuôn khổ thích hợp cho năng lượng tái sinh, công nghệ bảo tồn năng lượng và các hệ thống vận chuyển đa hình thái.
Các chính sách về môi trường của Tokyo thể hiện quyết tâm đem lại một môi trường trong sạch và an toàn cho toàn bộ người dân thành phố, bảo vệ môi trường phải song hành cùng tăng trưởng kinh tế. Chính phủ Nhật Bản cũng đề cao vai trò đi đầu của chính quyền Tokyo và mô hình của Tokyo đã được nhân rộng cho hầu hết các thành phố của Nhật Bản, thậm chí còn lan sang các nước láng giềng.
Hiện nay, trong quá trình phát triển, tất cả các đô thị trên thế giới đều đang hướng tới mục tiêu phát triển đô thị bền vững. Bài học kinh nghiệm về quy hoạch và quản lý đô thị tại các nước như: Singapore, Nhật Bản… sẽ giúp cho quá trình hoạch định chính sách và lập quy hoạch, tạo môi trường tốt hơn cho các đô thị trên thế giới.
Hàn Quốc
Sau chiến tranh, vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Chính phủ Hàn Quốc thực hiện một loạt cải cách về chính sách kinh tế. Đây là giai đoạn bùng nổ về công nghiệp hóa và đô thị hóa tại quốc gia này, nên nhu cầu nhà ở cũng gia tăng, khoảng 10%/năm. Việc thiếu hụt nhà ở đã trở nên trầm trọng, đặc biệt là tại Thủ đô Seoul và Pusan, tỷ lệ đáp ứng nhà ở giảm từ 80% những năm 60 xuống còn 60% vào đầu những năm 70.
Để xử lý tình trạng này, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành Luật Khuyến khích xây dựng nhà ở (năm 1972) nhằm mục đích tăng cung về nhà ở. Sau sắc luật này, một kế hoạch lớn về xây dựng nhà ở được dự kiến triển khai với khoảng 2,5 triệu đơn vị nhà ở được xây dựng trong vòng 10 năm (từ 1972 - 1981). Tuy nhiên, do nguồn vốn đầu tư thiếu hụt, nên kế hoạch này không được thực hiện hoàn chỉnh.
Tình trạng đầu cơ nhà ở tăng nhanh, lũng loạn thị trường, kéo theo nhiều hệ lũy đã buộc Chính phủ phải vào cuộc, tham gia vào điều tiết thị trường. Một trong những giải pháp được đưa ra là thành lập Tập đoàn Phát triển đất đai Hàn Quốc, thay mặt Nhà nước thực hiện chính sách phát triển đất đai, tư nhân không được phép tham gia lĩnh vực phát triển đất, nhà ở; hệ thống giá trần nhà ở cũng được ban hành trong giai đoạn này.
Đến thập niên 80, Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục đưa ra các chính sách kinh doanh nhà ở có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước nhằm chống đầu cơ nhà ở, như hệ thống đấu giá trái phiếu "bond-bidding". Theo đó, người mua căn hộ mới xây từ Chính phủ phải tham gia đấu giá căn hộ này, người trả giá cao nhất được mua, nhưng trước đó, họ phải mua một lượng nhất định trái phiếu chính phủ (trái phiếu loại II). Chính phủ Hàn Quốc còn ban hành quy định điều chỉnh thời gian mua nhà. Theo đó, người đã mua 1 căn hộ lần đầu thì sau 5 năm không được tham gia đấu giá mua căn hộ thứ 2 so với 3 năm như trước. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng lập văn phòng điều tra việc trốn thuế mua bán bất động sản và điều tra nguồn gốc tiền mua bất động sản, những đối tượng "đầu cơ chuyên nghiệp" bị công bố tên rộng rãi... Hệ thống giá trần thống nhất đối với tất cả các đối tượng xây dựng căn hộ để bán cũng được áp dụng. Các chính sách này đã mang lại hiệu quả khi nạn đầu cơ được hạn chế một cách tối đa, cho phép Chính phủ Hàn Quốc tiếp tục thực hiện chính sách phát triển thị trường nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho thuê và tập trung vào các đối tượng xã hội có khó khăn về nhà ở. Từ năm 1988 - 1992, một chương trình mang tính chất tổng thể - kế hoạch xây dựng 2 triệu căn hộ được triển khai (1,5 triệu căn hộ để bán, 500.000 căn hộ cho thuê). Có 190.000 căn hộ cho thuê lâu dài được Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ đến 80%, đây được coi là một cột mốc thành công của chính sách nhà ở Hàn Quốc. Từ thập niên 90 cho đến nay, Chính phủ Hàn Quốc tập trung vào việc ổn định cư trú cho các hộ gia đình có thu nhập trung bình, thấp kết hợp với việc nâng cao chất lượng sống cho các hộ dân này. Nhờ đó, đã giảm dần khoảng cách chênh lệch về chất lượng sống giữa tầng lớp dân cư.

Một góc con đường trên cao được biến thành công viên tại Seoul
Seoul - Thủ đô của Hàn Quốc là một trong những thành phố lớn của thế giới. Cư dân Seoul, chiếm khoảng 20% tổng dân số Hàn Quốc vào đầu năm 2018. Seoul đã xây dựng và phát triển ĐTTM thành công. Chính quyền thành phố Seoul trao quyền cho công dân và tạo ra một môi trường có sự tham gia của công dân ở tất cả các cấp hành chính có thể.
Cục Đổi mới Seoul hoạt động ở nhiều cấp độ. Các công dân được mời tranh luận về các vấn đề chính sách hiện tại và tham gia giải quyết các vấn đề mà cộng đồng của họ gặp phải. Thành phố cũng khuyến khích sự tham gia của công dân bằng cách tổ chức các cuộc thi đổi mới để tìm giải pháp thông minh mới cho các vấn đề của Seoul.
Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
- Thứ nhất, về công nghệ, cần nâng cao khả năng tương tác và kết nối của hạ tầng mạng, qua đó nâng cao kết nối giữa các ban, ngành của chính quyền; giữa chính quyền với doanh nghiệp và người dân.
- Thứ hai, việc xây dựng và phát triển thành phố, nhất là xây dựng thành phốn thông minh, không chỉ là ứng dụng những công nghệ tiên tiến, hiện đại nhất mà là sử dụng công nghệ một cách thông minh nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
- Thứ ba, việc phát triển đô thị không thể bỏ qua hay xem nhẹ yếu tố văn hóa của người dân. Văn hóa chính là linh hồn của một đô thị, giữ cho thành phố “không còn là cái xác của những công nghệ hiện đại”.
- Thứ tư, cần phải đặc biệt chú trọng đến nhân tố con người. Việc trang bị cho nguồn nhân lực những kỹ năng cần thiết là rất quan trọng, không chỉ là những kỹ năng nghiệp vụ chuyên môn, mà còn phải là kỹ năng nghiên cứu, đổi mới và sáng tạo không ngừng.
- Thứ năm, cần thiết lập những phương thức và nền tảng để các bên xóa bỏ khác biệt, đẩy mạnh hợp tác và xây dựng đồng thuận trong giải quyết các vấn đề mang tính chiến lược, các xung đột về lợi ích, ứng phó với biến đổi khí hậu và thực hiện mục tiêu phát triển bền vững.
- Thứ sáu, Chính phủ cần triển khai nhiều chương trình, chính sách và dự án trọng điểm tập trung xây dựng và phát triển Đô thị thông minh. Trước tiên, cần tập trung nguồn lực để phát triển đô thị (thông minh) tiên tiến, điển hình, sau đó sẽ phát triển rộng ra các thành phố trên cả nước.
- Thứ bảy, tuyên truyền rộng rãi để người dân thấy được vai trò và tầm quan trọng của việc xây dựng, phát triển và quản lý đô thị. Từ đó huy động sức mạnh toàn dân trong việc thực hiện các giải pháp đồng bộ để đạt được mục tiêu đề ra.
