Lấy dân làm gốc - một trong những bài học kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo công cuộc đổi mới ở Việt Nam

Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc chính là chân lý được rút ra từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, là cội nguồn tạo nên sức mạnh để dân tộc ta liên tiếp giành thắng lợi trong các cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch

Dân là gốc của nước, nước lấy dân làm gốc chính là chân lý được rút ra từ lịch sử hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam, là cội nguồn tạo nên sức mạnh để dân tộc ta liên tiếp giành thắng lợi trong các cuộc đấu tranh chống thiên tai, địch họa và trong xây dựng đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Hợp tác xã nông nghiệp Tân Lập, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây (08-7-1958) - Ảnh Tư liệu

Chính vì vậy, khi tổng kết các bài học lớn của cuộc kháng chiến chống quân Mông - Nguyên, Trần Quốc Tuấn – vị tướng lỗi lạc của nhà Trần đã nêu nguyên nhân lớn nhất tạo nên thắng lợi của dân tộc ta đó là: “Vua tôi đồng lòng, anh em hoà thuận, cả nước góp sức” và trước khi mất ông đã căn dặn vua Trần: "Phải khoan thư sức dân để làm kế bền gốc sâu rễ, đó là thượng sách giữ nước”. Nguyễn Trãi, người anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới đã nhiều lần nhắc đến dân và vai trò sức mạnh của dân. Ông cho rằng: “chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân” “lật thuyền mới biết dân như nước”, “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”.

Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin cũng rất đề cao vai trò của quần chúng nhân dân. Theo những nhà lý luận kinh điển, quần chúng nhân dân là chủ thể sáng tạo ra lịch sử, là đầu tàu của mọi cuộc cách mạng. Trong tác phẩm Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen (năm 1943), C.Mác đã viết: “Chủ quyền của nhân dân không phải là cái phát sinh từ chủ quyền của nhà vua, mà ngược lại, chủ quyền của nhà vua dựa trên chủ quyền của nhân dân”[1]. Phát triển tư tưởng của C.Mác và Ph. Ăngghen trong điều kiện mới, V.I.Lênin cũng khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình, tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được”[2].

Kế thừa, phát huy giá trị truyền thống trọng dân của dân tộc, đồng thời quán triệt quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng chứ không phải là sự nghiệp của cá nhân anh hùng nào. Thành công của Đảng ta là ở nơi Đảng ta đã tổ chức và phát huy lực lượng cách mạng vô tận của nhân dân” [3] hoặc là : "Nước lấy dân làm gốc... Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân"[4].

Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, kể cả trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng việc tuyên truyền, giác ngộ, vận động quần chúng nhân dân ủng hộ cách mạng, tham gia cách mạng và đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết của toàn dân làm nên những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam mà điển hình là thắng lợi của cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đồng Nam Á, thắng lợi của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, thắng lợi của công cuộc đổi mới.

Trong quá trình lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới, việc thực hiện “lấy dân làm gốc” luôn được Đảng xác định là phương châm trong hành động của Đảng và một trong những bài học kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo. Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) – Đại hội mở đầu cho công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, khi phân tích đánh giá về kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội V và chặng đường hơn 10 năm Đảng lãnh đạo cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc (1975-1986), Đại hội đã rút ra các bài học kinh nghiệm thì trong đó bài học thứ nhất là: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”[5]; “Mọi chủ trương, chính sách của Đảng phải xuất phát từ lợi ích, nguyện vọng và khả năng của nhân dân lao động, phải khơi dậy được sự đồng tình, hưởng ứng của quần chúng. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, đi ngược lại lợi ích của nhân dân là làm suy yếu sức mạnh của Đảng”[6]. Bởi vì, chính thực tiễn cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong những năm trước đổi mới đã cho thấy, khi nào chủ trương, chính sách nào phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân, bảo đảm các quyền và lợi ích của Nhân dân, “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện thành một, thì chủ trương, chính sách đó được Nhân dân đồng tình ủng hộ, nhanh chóng đi vào cuộc sống và mang lại hiệu quả; chủ trương, chính sách nào không xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích của Nhân dân, thì sẽ rất khó đi vào cuộc sống, thậm chí thất bại. Đường lối đổi mới thông qua tại Đại hội VI được bắt nguồn và hình thành từ chính sáng kiến, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân ở các địa phương, cơ sở là một minh chứng rất rõ về vai trò của quần chúng nhân dân trong việc hình thành chủ trương, đường lối của Đảng.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng đã nêu lên các bài học kinh nghiệm, thì bài học thứ hai đó là: “Sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Chính Nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của Nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời Nhân dân sẽ đưa đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước”[7].

Tiếp sau Đại hội VII, ở các kỳ Đại hội trong suốt quá trình Đảng lãnh đạo tiến hành công cuộc đổi mới, vấn đề “lấy dân làm gốc”: chăm lo đời sống cho Nhân dân, dựa vào Nhân dân, phát huy vai trò làm chủ, tinh thần trách nhiệm, sức sáng tạo và mọi nguồn lực của Nhân dân, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được Đảng khẳng định là một trong những bài học kinh nghiệm và là phương châm trong công tác lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, trong Báo cáo chính trị trình tại Đại hội, khi tổng kết thực tiễn 35 năm đổi mới, 10 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011 - 2020 và 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, Đảng đã rút ra 5 bài học hết sức quan trọng, trong đó tiếp tục khẳng định bài học lấy dân là gốc: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đồng thời, trong Báo cáo cũng nêu rõ: Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa.

“Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được” - Hồ Chí Minh

Đây vừa là sự khẳng định về tầm quan trọng của bài học lấy dân làm gốc trong suốt quá trình 35 năm Đảng lãnh đạo công cuộc đổi mới và cũng là quan điểm chỉ đạo đòi hỏi các cấp, các ngành và mọi cán bộ, đảng viên phải tiếp tục quán triệt sâu sắc trong hoạt động thực tiễn. Bởi thực tiễn trong quá trình 35 năm đất nước tiến hành công cuộc đổi mới đã cho thấy, với quan điểm “lấy dân làm gốc”, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nghị quyết, văn bản mang tính chiến lược về phát huy vai trò sức mạnh của Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân. Trong đó có nhiều Nghị quyết đã được đông đảo các tầng lớp Nhân dân hưởng ứng như: Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII về “Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tiếp tục xây dựng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh” (6/1997); Chỉ thị 30 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cở sở” (18/2/1998); Kết luận 120 về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” (7/1/2016);... Cùng với các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013 cũng đã khẳng định rõ về vai trò của Nhân dân: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”; “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Điều đặc biệt là lần đầu tiên trong Hiến pháp, tại Điều 4, khi nói về Đảng Cộng sản Việt Nam, điểm 2 viết: “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình”. Vậy là không chỉ lãnh đạo Nhân dân, phục vụ Nhân dân, Đảng còn phải chịu sự giám sát của Nhân dân và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Với nhận thức đúng đắn đó, Đảng đã lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị thực hiện nhiều hình thức để phát huy sức mạnh đoàn kết, sự đóng góp của Nhân dân và đồng thời không ngừng chăm lo mọi mặt đời sống của Nhân dân.

Các cuộc lấy ý kiến của Nhân dân cả nước vào dự thảo Cương lĩnh, văn kiện Đại hội Đảng, dự thảo sửa đổi Hiến pháp, dự thảo các đạo luật đã phát huy trí tuệ, tâm huyết của nhân dân để xây dựng, hoàn thiện các văn kiện quan trọng của Đảng và Nhà nước, phục vụ tốt hơn cuộc sống của người dân. Chính vì vậy, mặc dù công cuộc đổi mới tiến hành trong bối cảnh tình hình với nhiều khó khăn thử thách, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng và nhờ có Nhân dân tham gia, Nhân dân đồng tình hưởng ứng đã tạo thành một sức mạnh tổng hợp của sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân giúp cho đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách để đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, thực hiện đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế hiện nay, đất nước ta cũng đang đứng trước nhiều vấn đề và những hiện tượng đang tác động đến tư tưởng, tình cảm, đời sống của Nhân dân, ảnh hưởng không nhỏ tới mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tới sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó là sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội ngày càng gay gắt; tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, xâm phạm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân... đang gây bức xúc trong dư luận cùng với các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng đang tác động lớn đến lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ. Bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục chĩa mũi nhọn tấn công, hòng phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây chính là những thách thức đang đặt ra đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ, đòi hỏi các cấp ủy, chính quyền và toàn thể cán bộ, đảng viên phải nhận thức rõ và nêu cao tinh thần trách nhiệm trong quán triệt sâu sắc các quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, trong đó có quan điểm “lấy dân làm gốc”. Theo đó, các cấp ủy, chính quyền, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải nhận thức rõ được sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết với Nhân dân, được lòng dân. Muốn được lòng dân, có lòng dân thì toàn bộ hoạt động của Đảng cũng như mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân, nhằm vào mục đích vì lợi ích của Nhân dân. Tạo cơ chế để dân phát huy đầy đủ, có hiệu quả quyền làm chủ của mình. Tập trung giải quyết bức xúc, nguyện vọng chính đáng của Nhân dân liên quan đến lợi ích, đời sống, việc làm; chống tham nhũng, lãng phí; xử lý nghiêm những tiêu cực… Có như vậy, chúng ta sẽ góp phần tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, tích cực và tiến bộ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từng bước hiện thực hoá mục tiêu như Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã đề ra: Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Ths. Lê Hải Yến - Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa

-----------------------------

[1] C.Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t1, tr347. [2] V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mát x cơ va, 1979, t39, tr251. [3] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t10, tr197 [4] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H.2002, t5, tr409- 410 [5] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tập 47, tr. 362. [6] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb CTQG, Hà Nội, 2006, tập 47, tr. 363 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.5