Truyền cảm hứng là một trong những năng lực cơ bản của người lãnh đạo

Truyền cảm hứng là một trong những năng lực cơ bản của người lãnh đạo, là một cách thức thúc đẩy hoạt động thực tiễn đạt hiệu quả; là biện pháp để tạo sự đồng lòng, đồng thuận phấn đấu vì mục tiêu chung của tổ chức, cùng xây dựng tổ chức ngày càng phát triển. Tiếp cận từ góc độ tâm lý học lãnh đạo, truyền cảm hứng là năng lực chuyên biệt, thể hiện những phẩm chất độc đáo, riêng biệt của người lãnh đạo trong hoạt động lãnh đạo.

1. Khái niệm năng lực truyền cảm hứng

Trong khoa học lãnh đạo, thuật ngữ truyền cảm hứng chưa có sự thống nhất và thừa nhận rộng rãi. Thuật ngữ “cảm hứng” trong từ điển tiếng Việt được định nghĩa là “trạng thái tâm lý đặc biệt khi có cảm xúc và sự lôi cuốn mãnh liệt, tạo điều kiện để óc tưởng tượng, sáng tạo hoạt động có hiệu quả”(1).

Theo từ điển Tâm lý học, “cảm hứng” là “cảm xúc thể hiện sự tham gia một cách tích cực vào những sự kiện khác nhau như chính trị, khoa học, văn hóa, xã hội hoặc thể thao trong khoảng thời gian nhất định”.

Cảm hứng là trạng thái tâm lý tích cực cá nhân trong một khoảng thời gian, thái độ, cảm xúc tích cực, giúp con người đánh thức tiềm năng, năng lực trong công việc của mình. Trạng thái tâm lý này có những biểu hiện vô cùng sinh động, tạo nên sức mạnh, khả năng phi thường.

Thuật ngữ “truyền” nghĩa là “Để lại cái mình đang nắm giữ cho người khác, thường thuộc thế hệ sau” hoặc “Lan rộng ra hoặc làm lan rộng ra cho nhiều người,nhiều nơi biết”(2).

Nhà lãnh đạo truyền cảm hứng bằng nhiều cách thức, phương pháp, trước hết là khả năng diễn đạt, gồm khả năng diễn thuyết, những câu chuyện, biểu thị, bày tỏ cảm xúc và bằng hành động nêu gương của bản thân.

Nền tảng của truyền cảm hứng là sự sẵn sàng thực hiện nhiệm vụ, phát huy tính tích cực, tự giác hoạt động và cam kết của cá nhân vì mục tiêu chung.

Nhà lãnh đạo không thể buộc người khác cam kết với một mục tiêu, tầm nhìn, giá trị, mà chỉ có thể hỗ trợ người khác tự xác lập cam kết của bản thân họ. Do đó, truyền cảm hứng là quá trình đi từ trái tim đến trái tim; từ niềm tin và giá trị sâu thẳm của người lãnh đạo đến với niềm tin và giá trị sâu thẳm của đối tượng lãnh đạo. Bởi vậy, trước hết người lãnh đạo phải thấu hiểu các niềm tin và giá trị, mong muốn, khát khao mà người khác đang theo đuổi và tìm cách gắn kết chúng với tầm nhìn.

Như vậy, năng lực truyền cảm hứng là sự vận dụng những kỹ năng, những tri thức về phương thức truyền cảm hứng của chủ thể lên nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi của đối tượng nhằm khơi dậy ở họ sự sẵn sàng, tính tích cực, tự giác và cam kết thực hiện vì mục tiêu chung.

2. Đặc điểm năng lực truyền cảm hứng trong lãnh đạo

Một là, để có năng lực truyền cảm hứng thì trước hết người lãnh đạo phải có kỹ năng, tri thức về phương thức hoạt động lãnh đạo, như xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng, trừng phạt; tri thức về phương thức liên quan đến việc sử dụng phong cách lãnh đạo và quyền lực lãnh đạo; có tri thức về phương thức liên quan đến quá trình giao tiếp, ứng xử của người lãnh đạo và tri thức về phương thức liên quan tới nhân cách của người lãnh đạo, người được lãnh đạo.

Trong thực tiễn hoạt động lãnh đạo, các tri thức này tác động qua lại với nhau, không tách rời nhau mà thống nhất với nhau thành một loại tri thức về phương thức truyền cảm hứng.

Hai là, thước đo của năng lực truyền cảm hứng không chỉ ở mức độ nắm vững tri thức về phương thức truyền cảm hứng mà còn là sự vận dụng chúng một cách thường xuyên và thành thạo trong khi hành động, nhằm làm cho hành động đó đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện xác định của những hoàn cảnh khác nhau.

Ba là, năng lực truyền cảm hứng có ý nghĩa quyết định đến kết quả của hoạt động lãnh đạo. Hoạt động lãnh đạo là hoạt động phức tạp, vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, vì vậy, năng lực truyền cảm hứng là dạng năng lực phức hợp trong đó bao gồm nhiều kỹ năng thành phần có mối liên hệ mật thiết với nhau.

Năng lực truyền cảm hứng là sự vận dụng những kỹ năng, những tri thức về phương thức truyền cảm hứng của chủ thể lên nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi của đối tượng nhằm khơi dậy ở họ sự sẵn sàng, tính tích cực, tự giác và cam kết thực hiện vì mục tiêu chung

Năng lực truyền cảm hứng trong lãnh đạo có các cấp độ:

Năng lực truyền cảm hứng: là mức độ người lãnh đạo thể hiện khả năng hoàn thành có kết quả hoạt động truyền cảm hứng trong quá trình lãnh đạo.

Tài năng truyền cảm hứng: là mức độ cao hơn, thể hiện sự hoàn thành một cách sáng tạo hoạt động truyền cảm hứng trong quá trình lãnh đạo.

Thiên tài truyền cảm hứng: là mức độ cao nhất của năng lực, biểu thị ở mức kiệt xuất, hoàn chỉnh nhất của những vĩ nhân trong lịch sử nhân loại.

Việc thực hiện tốt các hoạt động lãnh đạo như xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng, trừng phạt, tự bản thân nó đã có sức mạnh truyền cảm hứng cho đối tượng lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ của mình.

Đây là phương thức truyền cảm hứng cơ bản, có ý nghĩa lâu dài và hiệu quả cao đối với tổ chức. Tuy nhiên, để đạt hiệu quả lãnh đạo cao, cần kết hợp các phương thức khác như sử dụng quyền lực lãnh đạo. Hiệu quả tác động của chúng phụ thuộc nhiều vào mức độ hiểu biết và cách thức sử dụng phương thức tác động của người lãnh đạo.

Hoạt động truyền cảm hứng là một hệ thống các hành động, mỗi hành động gồm nhiều thao tác. Mỗi bước trong hoạt động truyền cảm hứng đòi hỏi lãnh đạo phải có nhiều kỹ năng. Do vậy, toàn bộ hoạt động truyền cảm hứng đòi hỏi người lãnh đạo phải có một hệ thống năng lực phức hợp:

- Thông qua việc xác định tầm nhìn, xây dựng chiến lược, ra quyết định, tổ chức thực hiện quyết định, kiểm tra, đánh giá, động viên, khen thưởng, trừng phạt.

- Thông qua việc sử dụng phong cách lãnh đạo và quyền lực lãnh đạo.

- Thông qua việc giao tiếp, ứng xử của người lãnh đạo.

- Bằng nhân cách của người lãnh đạo và đối tượng lãnh đạo.

3. Cách thức truyền cảm hứng theo tâm lý học lãnh đạo

Truyền cảm hứng thông qua bố trí công việc

Bố trí công việc là nhân tố chủ yếu của việc động viên cá nhân và là yếu tố cơ bản của sự thành công của tổ chức. Muốn công việc đạt hiệu quả, người lãnh đạo phải tạo nên sự phù hợp giữa người lao động và công việc, bố trí người đúng việc và bố trí việc đúng người. Có như vậy, người được giao việc mới có khả năng hoàn thành nhiệm vụ, không gặp những khó khăn trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

“Bố trí người đúng việc” định hướng tới việc điều chỉnh người hơn là điều chỉnh công việc hướng tới sự phù hợp con người - công việc. Ở đây, công việc được xem xét một cách thực tế những thuận lợi và khó khăn, trên cơ sở những yêu cầu thực sự của công việc. Làm cho nhân viên tin vào khả năng thực hiện công việc của mình, tin vào hiệu quả của công việc đối với sự mong đợi của tập thể. Điều này sẽ tránh sự bất mãn ở người lao động, bởi họ sẽ không có những mong đợi thiếu thực tế.

 “Bố trí việc đúng người” định hướng nhiều hơn tới việc làm cho công việc trở nên thú vị hơn, tránh sự nhàm chán, đơn điệu đối với người lao động, điều đó sẽ tạo cho họ trạng thái phấn khởi.

Truyền cảm hứng thông qua tổ chức thi đua, khen thưởng và trách phạt

Việc đưa ra phần thưởng có ý nghĩa động viên rất lớn. Tất nhiên, phải đạt được các yêu cầu:

Đáp ứng nhu cầu của người được thưởng. Bởi lẽ, các cá nhân có nhu cầu khác nhau và tại các thời điểm khác nhau thì mỗi cá nhân cũng có nhu cầu khác nhau. Giá trị động viên, truyền cảm hứng bằng phần thưởng không chỉ phụ thuộc vào chính bản thân phần thưởng mà chủ yếu là do phần thưởng đó có đáp ứng đúng nhu cầu của người được thưởng tại thời điểm nhất định. Vì vậy, lựa chọn phần thưởng, thời gian và cách thức thưởng để đạt hiệu quả của việc truyền cảm hứng một cách tối ưu là một kỹ năng không thể thiếu của nhà quản lý.

Tạo ra ở nhân viên những mong đợi tích cực: Một khía cạnh khác của phần thưởng là tạo ra niềm tin về sự đáp ứng những nỗ lực của chủ thể. Họ tin rằng nếu cố gắng họ sẽ đạt được phần thưởng tương xứng.

Bảo đảm sự công bằng thích đáng với kết quả họ làm được. Phần thưởng phải công bằng trên cả phương diện cá nhân và xã hội. Công bằng cá nhân đánh giá quan hệ giữa những nỗ lực và những phần thưởng nhận được. Công bằng xã hội so sánh hệ số nỗ lực giữa phần thưởng của cá nhân này với cá nhân khác trong những điều kiện tương tự.

Phần thưởng phải gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ chính của người lao động. Trong trường hợp cá nhân và tập thể vi phạm quy định chung thì việc trách phạt, kỷ luật cũng bao hàm ý nghĩa động viên bởi chính sự đánh giá của tập thể về hành vi nào đó khiến mọi người phải suy nghĩ, phải khắc phục và cố gắng phấn đấu để không bị tái phạm. Với những người khác cũng coi đó là những điều cần rút kinh nghiệm trong hoạt động của bản thân.

Tạo điều kiện, cơ hội để nhân viên nâng cao trình độ về mọi mặt, đặc biệt về chuyên môn cũng là yếu tố có ý nghĩa động viên tới họ.

Thường xuyên giúp đỡ nhân viên giải quyết những khó khăn trong cuộc sống và công tác.

Sự can thiệp kịp thời để bảo vệ quyền lợi của người lao động cũng có ý nghĩa động viên với họ.

Truyền cảm hứng thông qua giao tiếp, cách cư xử thể hiện tình cảm của người lãnh đạo với người dưới quyền

Cần nhấn mạnh ý nghĩa của việc truyền cảm hứng thông qua giao tiếp giữa người lãnh đạo với người dưới quyền, bởi vì bất kỳ một cuộc tiếp xúc nào của người lãnh đạo với nhân viên cũng đều gây tác động nhất định với nhân viên. Việc kiên nhẫn lắng nghe cấp dưới báo cáo hoặc tâm sự, đặc biệt là những đề đạt của họ về cải thiện điều kiện làm việc và phương thức tiến hành công việc nếu điều kiện cho phép thì cố gắng giải quyết. Cách xử sự đó tạo cho người lao động thấy được lợi ích thiết thực mà nhà lãnh đạo mang lại, nhà lãnh đạo giúp nhân viên thực hiện được nguyện vọng của mình. Đây cũng là dịp thể hiện sức mạnh cá nhân, và là yếu tố xây dựng tổ chức lớn mạnh. Sở dĩ có thể như vậy vì điều đó làm cho con người có lòng tin vững chắc rằng họ đã đạt được nguyện vọng cơ bản là được mọi người tôn trọng(3).

Xét mối quan hệ người - người thì giao tiếp đóng vai trò cực kỳ quan trọng. Người lãnh đạo có kỹ năng giao tiếp tốt sẽ giúp cho công tác lãnh đạo đạt hiệu quả cao hơn.

Xét dưới góc độ là một phạm trù tâm lý học, giao tiếp được người lãnh đạo sử dụng để định hướng hoạt động, thực chất là thằm dò để xác định mức độ nhu cầu, thái độ, tình cảm, ý hướng của đối tượng lãnh đạo để có được sự đáp ứng kịp thời. Có giao tiếp tốt, người lãnh đạo có thể thu thập và xử lý thông tin để phát hiện, từ đó đánh giá, điều chỉnh, điều khiển họ sao cho đáp ứng được nhiệm vụ và phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn(4).

Xét dưới góc độ là một hoạt động của nhóm xã hội, giao tiếp được người lãnh đạo sử dụng nhằm thực hiện chức năng liên kết, hiệp đồng giữa các thành viên. Người lãnh đạo có năng lực giao tiếp tốt được thể hiện ở chỗ biết sử dụng các phương tiện giao tiếp như nghe, nói, thể hiện qua cử chỉ điệu bộ phù hợp để mang lại kết quả trong quá trình giao tiếp. Điều đó thể hiện từ việc người lãnh đạo biết tạo nên bầu không khí thân thiện với mọi người khi giao tiếp, khơi dậy sự nhiệt tình trong họ, khiến họ tự giác tham gia bàn công việc chung. Trong giao tiếp, nghe là tiền đề của nói.

Sự trao đổi tâm tình giữa lãnh đạo và nhân viên qua những bữa ăn trưa, những cơ hội gặp gỡ ngắn ngủi trong công sở, những dịp như sinh nhật, hiếu, hỷ… là cách thức mà người lãnh đạo có thể thu được thông tin nhiều và chính xác về đối tượng lãnh đạo. Trong quá trình đó, người lãnh đạo cần phải biết bày tỏ sự thấu hiểu và cảm thông sâu sắc với những lời tâm sự của nhân viên. Điều đó sẽ tạo không khí thân thiện và khơi dậy tính tích cực, nhiệt tình trong họ.

Truyền cảm hứng thông qua sử dụng phong cách và quyền lực lãnh đạo

Kỹ năng sử dụng phong cách lãnh đạo phù hợp với từng mẫu nhân viên điển hình. Sự kết hợp chặt chẽ, biện chứng giữa các yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo với yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống lãnh đạo sẽ tạo nên phong cách lãnh đạo đặc thù của mỗi người.

Cũng như quyền lực lãnh đạo, phong cách lãnh đạo có ý nghĩa động viên rất lớn khi người lãnh đạo chọn và sử dụng phương pháp tiếp cận và giải quyết vấn đề phù hợp với từng loại mẫu nhân viên.

Trong quá trình lãnh đạo, mỗi nhà lãnh đạo thường hình thành một phong cách lãnh đạo đặc trưng. Phong cách lãnh đạo được hiểu là kiểu lãnh đạo đặc thù của mỗi người, được hình thành trên cơ sở kết hợp và tác động qua lại biện chứng giữa yếu tố tâm lý chủ quan của người lãnh đạo và yếu tố môi trường xã hội trong hệ thống quản lý.

Trong đó, có những yếu tố tâm lý chủ quan tương đối ổn định song điều đó không có nghĩa là không sửa đổi được. Yếu tố môi trường (đặc biệt là môi trường xã hội) là hệ thống giá trị, đạo đức, tinh thần mà từng cá nhân gia nhập vào, nó là điều kiện chỉ đạo hành vi. Môi trường là yếu tố luôn biến động và có tính chất tình huống. Người quản lý có năng lực là người biết khai thác, biết đặt khả năng của mình trong bối cảnh của môi trường tổ chức để tìm ra cách thức quản lý hiệu quả nhất.

Như vậy, phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện về mặt khoa học và tổ chức của người lãnh đạo mà còn thể hiện tài năng, chí hướng, nghệ thuật điều khiển, tác động của họ. Paul Hersey và Henneth H. Blanchard đưa ra 4 loại phong cách cơ bản:

Ra lệnh, chỉ đạo, kiểm soát, xác nhận (phong cách mệnh lệnh - ra lệnh): P1);

Giải thích, trao đổi, làm sáng tỏ, thuyết phục (phong cách giảng giải: P2);

 Khuyến khích, cộng tác, thu hút (phong cách khuyến khích: P3);

Giao phó, quan sát, giám sát, tin cậy (phong cách giao phó: P4).

Các tác giả đã căn cứ vào hành vi (hành vi bổn phận và hành vi quan hệ) mà người lãnh đạo đưa ra và mức độ sẵn sàng của các nhân viên khi thực hiện nhiệm vụ, chức năng để phân loại. Sở dĩ như vậy vì trong mọi tổ chức, mỗi nhân viên là một chủ thể, đòi hỏi phải được đối xử riêng, phù hợp với đặc trưng nhân cách của họ. Các nhà nghiên cứu đã dựa vào hai tiêu chí chủ yếu: năng lực hoạt động và thái độ đáp ứng với tác động của người quản lý để xác định mức độ sẵn sàng tiếp nhận công việc của mỗi nhân viên.

Các nghiên cứu cho thấy, kết quả động viên, khích lệ cao hay thấp tùy thuộc vào mức độ phù hợp của phong cách lãnh đạo đối với những nhân viên có mức độ “sẵn sàng” nhận tác động khác nhau. Nếu phong cách lãnh đạo phù hợp cao với mức độ sẵn sàng của nhân viên thì chu trình quản lý của họ có tác dụng động viên rất lớn. Ngược lại, nhà quản lý sử dụng phong cách không phù hợp sẽ dẫn đến các thái độ tiêu cực từ phía nhân viên dưới quyền.

Kỹ năng sử dụng quyền lực đối với các mẫu nhân viên điển hình.

Trong cư xử với người dưới quyền, nhà lãnh đạo phải biết sử dụng quyền lực lãnh đạo và phong cách lãnh đạo như là phương tiện động viên, khích lệ, truyền cảm hứng hữu hiệu.

Quyền lực trong lãnh đạo là một trong những công cụ quan trọng của người lãnh đạo, quản lý, là một sức mạnh mà ai ở chức vụ đó cũng được phép sử dụng. Tuy nhiên, hiệu quả, của quyền lực phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng nó như thế nào. Bởi lẽ sức mạnh của quyền lực được thể hiện ở sự phục tùng của cấp dưới. Nhà lãnh đạo biết lựa chọn và sử dụng các loại quyền lực phù hợp với từng mẫu nhân viên thì hiệu quả tác động sẽ cao, sức động viên của quyền lực lớn. Ngược lại, nếu quyền lực không được sử dụng phù hợp thì sức động viên của nó sẽ bị giảm rất nhiều.

Quyền lực được hiểu như một sức mạnh mà chủ thể vận dụng khi thực hiện chức năng quản lý, gồm quyền lực địa vị và quyền lực cá nhân. Quyền mà một người có thể điều khiển người khác làm một công việc nhất định do vị trí của họ trong tổ chức được gọi là quyền lực địa vị. Còn quyền lực cá nhân là chiều hướng các nhà lãnh đạo đạt được niềm tin và sự tín nhiệm ở những đối tượng mà họ đang cố gắng tác động. Quyền lực địa vị bắt nguồn từ vị trí, chức vụ công tác của người quản lý trong một hệ thống tổ chức nhất định. Quyền lực cá nhân bắt nguồn từ những mối quan hệ với những thành viên mà họ đang cố gắng tác động và gây ảnh hưởng.

Nhà lãnh đạo có năng lực là người biết cách sử dụng quyền lực của mình khi tác động tới nhân viên nhằm động viên tới mức tốt nhất khả năng làm việc của nhân viên đó.

Trong một tổ chức, muốn nâng cao chất lượng hoạt động và làm tăng sự thỏa mãn đối với công việc của người lao động đòi hỏi người lãnh đạo quan tâm đến sự phù hợp giữa người lao động và công việc. Thiết kế công việc hợp lý là nhân tố chủ yếu của việc động viên cá nhân và là yếu tố cơ bản tạo nên thành công của tổ chức. Thiết kế công việc hợp lý là bố trí người đúng việc và bố trí việc đúng người.

Truyền cảm hứng thông qua phát huy những truyền thống tốt đẹp và tạo ra bầu không khí tâm lý tích cực

Ngoài những yếu tố thể hiện mối quan hệ giữa người lãnh đạo với từng cá nhân thì việc phát huy những truyền thống tốt đẹp của đơn vị, tạo ra bầu không khí tâm lý thuận lợi là nhân tố làm cho nhân viên gắn bó với cơ quan và cũng là lý do để họ tự hào là thành viên của tổ chức này. Điều đó sẽ tạo nên niềm tin ở mỗi người, tin vào vị thế của bản thân họ trong tập thể.

Kỹ năng truyền cảm hứng thông qua việc thể hiện một thái độ sống tích cực, đam mê và nhiệt tình

Thái độ sống tích cực, đam mê và nhiệt tình. Sự đam mê và tin tưởng của nhà lãnh đạo là yếu tố đầu tiên truyền cảm hứng cho những người khác. Không thể truyền cảm hứng cho người khác nếu bản thân nhà lãnh đạo chưa tin tưởng vào điều mình nói, chưa thể hiện sự đam mê với ý nghĩa của tầm nhìn hay công việc.

Truyền cảm hứng thông qua việc diễn thuyết

Ngôn ngữ là một công cụ mạnh nhất để bày tỏ bản thân và kết nối với người khác. Do đó, diễn thuyết của nhà lãnh đạo là phương thức quan trọng để truyền cảm hứng. Diễn thuyết thể hiện ở các bài phát biểu quan trọng cũng như trong các câu chuyện hằng ngày giữa lãnh đạo với cộng sự. Các nghiên cứu tâm lý và truyền thông đã khẳng định, người nghe, người đối thoại có thể được thuyết phục dựa trên sự sắc sảo, lôgich mạch lạc và dẫn chứng khoa học, đồng thời dựa trên sự chia sẻ, liên kết của nội dung bài phát biểu hay câu chuyện với chính cảm nhận, mong muốn, trải nghiệm của họ trong bối cảnh nhất định.

Truyền cảm hứng thông qua việc xây dựng hình ảnh lãnh đạo

Nhà lãnh đạo thường xuyên xuất hiện trước mọi người, trong các bối cảnh và tình huống khác nhau, cũng như trên các phương tiện truyền thông và mạng xã hội. Tương xứng với các tâm trạng xã hội khác nhau, mà những hình ảnh đó đem lại những nhận định, đánh giá và cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực của cộng sự.

Do đó, việc xây dựng hình ảnh lãnh đạo trở thành một phương thức không thể thiếu trong truyền cảm hứng. Hình ảnh không chỉ thể hiện hình thức, vẻ bề ngoài như phong thái, diện mạo, dáng vẻ, mà còn thể hiện, biểu đạt các yếu tố nội tâm, ý chí quyết tâm, tư tưởng và cả tài năng của người lãnh đạo. Dáng đi, dáng đứng, cách nhìn, cách nói, trang phục, phong cách ăn mặc và thái độ khi giao tiếp với người khác đều góp phần xây dựng hình ảnh lãnh đạo. 

Truyền cảm hứng thông qua việc sử dụng dư luận xã hội

Dư luận xã hội là sự đánh giá của số đông những người trong tập thể đối với một hành vi, một thái độ hoặc về một vấn đề nào đó. Nó có tác dụng to lớn trong việc điều chỉnh hành vi chung của tập thể, nó lên án các hành động sai trái, mập mờ gây hại cho tập thể. Dư luận tập thể được coi là công cụ tác động tâm lý hữu hiệu trong hầu hết các tình huống. Tuy nhiên, dư luận tập thể có thể diễn ra trong hai tình thế: dư luận tập thể sai hoặc đúng. Do vậy, tác dụng của nó đối với mỗi người sẽ khác nhau. Người lãnh đạo cần phải biết cách tạo ra dư luận xã hội để giáo dục tập thể và để động viên mọi người trong tập thể.

Truyền cảm hứng là vai trò đặc trưng của người lãnh đạo, làm nên sự khác biệt quan trọng trong phong cách. Khi nói đến việc truyền cảm hứng là nói chủ yếu đến các yếu tố tinh thần, mang các yếu tố tình cảm hơn là các quyền lợi vật chất. Vì vậy, người lãnh đạo cần rất tự giác và kiên trì xây dựng dần nền tảng đạo lý, tầm nhìn và giá trị, thúc đẩy sự cam kết tự nguyện, tự giác của các thành viên. Tầm nhìn về tương lai mới đòi hỏi các thói quen, quy trình và phương thức mới, từ đó vai trò của các giá trị mới, ảnh hưởng đến hành vi và nhận thức của số đông trong tổ chức, xã hội. Cảm hứng chỉ có thể tạo được bền vững trên cơ sở các chuẩn mực đạo đức cao. Người truyền cảm hứng cũng phải có khả năng đánh giá được và có cảm nhận sắc bén về cái tốt - cái xấu đối với tập thể, xã hội mà mình lãnh đạo.

ThS ĐOÀN NGỌC HÀ
Vịện Lãnh đạo học và Chính sách công,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

_________________

(1) Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển Tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, Đà Năng, 2002, tr.106.

(2) Vũ Dũng (chủ biên): Từ điển Tâm lý học, Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, 2008, tr.1053.

(3) Kôvalépski (1978): Người lãnh đạo và cấp dưới, Nxb Lao động, Hà Nội, tr.116.

(4)Nguyễn Bá Dương (chủ biên): Tâm lý học quản lý dành cho người lãnh đạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.73-74.

...
  • Tags: