Vai trò cải cách thể chế kinh tế - Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính động lực cho phát triển kinh tế bền vững

Bài viết cho thấy: muốn thực hiện được điều này thì phải bắt đầu từ việc đổi mới tư duy cải cách thủ tục hành chính; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; hoàn thiện thể chế hóa quyền sở hữu; phát triển đồng

Bài viết tập trung phân tích vấn đề cải cách thể chế kinh tế hiện nay nên bắt đầu từ đâu và thực hiện theo lộ trình nào? Qua bài viết cho thấy: muốn thực hiện được điều này thì phải bắt đầu từ việc đổi mới tư duy cải cách thủ tục hành chính; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; hoàn thiện thể chế hóa quyền sở hữu; phát triển đồng bộ thị trường là hướng đi tất yếu hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam.

1. Giới thiệu

Suốt nhiều thập niên, cải cách thể chế kinh tế luôn là vấn đề rất thời sự trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trước sự đòi hỏi cấp thiết của nền kinh tế nước ta hiện nay, quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với cải cách thể chế kinh tế nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng cần sớm được thực hiện nhằm làm đòn bẩy hữu hiệu để phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững. Vấn đề đặt ra hiện nay là cải cách thể chế kinh tế nên bắt đầu từ đâu và thực hiện theo lộ trình nào?

Hội thảo tham vấn cấp cao “Cải cách hướng tới phát triển bền vững và hội nhập kinh tế quốc tế: Trọng tâm và lộ trình đến năm 2025,” ngày 29/10/2021

2. Cải cách thể chế kinh tế là gì?[1]

Thể chế kinh tế là một hệ thống các quy phạm pháp luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất - kinh doanh và các quan hệ kinh tế. Bao gồm các yếu tố chủ yếu là các đạo luật, quy chế, quy tắc, chuẩn mực về kinh tế gắn với các chế tài về xử lý vi phạm, các tổ chức kinh tế, các cơ quan quản lý nhà nước về kinh tế, truyền thống văn hóa và văn minh kinh doanh, cơ chế vận hành nền kinh tế.

Từ khái niệm thể chế kinh tế, có thể hiểu “Cải cách thể chế kinh tế” tức là thay đổi cách quản lý, thay đổi cơ chế quản trị, cơ chế sử dụng, sở hữu để tạo ra động lực đột phá, phù hợp hơn với thực tiễn cuộc sống. Cải cách thể chế kinh tế là chuyển đổi về đường lối, phương hướng để phù hợp với nền kinh tế thị trường.

3. Sự cần thiết của cải cách thể chế kinh tế?

Lịch sử phát triển các khuôn khổ thể chế kinh tế thế giới cho thấy cải cách thể chế kinh tế đã thúc đẩy sự thay đổi về kinh tế của các quốc gia. Thể chế kinh tế là một trong các trụ cột quan trọng bảo đảm cho hệ thống chính trị ổn định và phát triển, là cơ sở bảo đảm cho các thể chế khác cùng tồn tại và phát triển. Sau 30 năm thực hiện cải cách, những khuyết tật, yếu kém của thể chế kinh tế đang bộc lộ. Nay chúng ta cần đổi mới mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa để tạo ra động cơ và động lực mới cho phát triển. Thực tiễn đang đòi hỏi phải có một thể chế kinh tế mới phù hợp hơn, năng động và hiệu quả hơn, có khả năng khơi dậy động lực cho phát triển kinh tế, khuyến khích mọi người trong xã hội hăng say làm kinh tế, khuyến khích con người sáng tạo, cống hiến, làm giàu cho mình và cho xã hội. Động lực phát triển kinh tế bền vững Cải cách thể chế kinh tế hướng đến hoàn thiện kinh tế thị trường có ý nghĩa quan trọng, là nhiệm vụ chiến lược, là khâu đột phá, tạo động lực phát triển nhanh và bền vững, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế, tăng tốc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cải cách thể chế kinh tế là yếu tố then chốt để tạo động lực cho chuyển đổi mô hình tăng trưởng, sớm đưa nước Việt Nam thoát ra nhóm nước thu nhập trung bình thấp, bắt nhịp với dòng chảy chung của thế giới. Như vậy, cải cách thể chế kinh tế là yêu cầu khách quan và vô cùng cấp thiết mang tính chiến lược nhằm khơi dậy và giải phóng các tiềm năng của đất nước đối với sự phát triển của kinh tế Việt Nam.

4. Cải cách thể chế kinh tế bắt đầu từ đâu và tiến hành như thế nào?

Như đã trình bày ở trên, cải cách thể chế kinh tế được xem là nền tảng để thực hiện triển khai các kế hoạch tái cơ cấu kinh tế Việt Nam nhằm ổn định kinh tế vĩ mô. Cải cách thể chế kinh tế thực chất là cụ thể hóa quy luật phát triển quan hệ sản xuất-kinh tế phù hợp với tính chất, trình độ của lực lượng sản xuất, xây dựng kiến trúc thượng tầng phù hợp với cơ sở hạ tầng xã hội. Để đạt hiệu quả, quá trình cải cách cần tiến hành theo những lộ trình khác nhau, từ thấp tới cao, bắt đầu từ việc ưu tiên cải cách thủ tục hành chính để làm nền tảng thuận lợi cho các lộ trình tiếp theo; tiếp đến là hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; thể chế hóa quyền tài sản; cuối cùng phát triển đồng bộ thị trường.

Cải cách thủ tục hành chính là cải cách các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền; cải cách các quy định về các loại thủ tục hành chính; cải cách việc thực hiện các thủ tục hành chính. [2]

Cải cách thủ tục hành chính là động lực thúc đẩy quá trình đổi mới kinh tế; dân chủ hóa đời sống xã hội; hội nhập quốc tế; củng cố và duy trì ổn định chính trị; phòng chống tiêu cực; tiết kiệm, chống lãng phí. Bên cạnh đó, đây là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân. Cải cách thủ tục hành chính có tác động to lớn đối với việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Thông qua việc cải cách thủ tục hành chính, sẽ gỡ bỏ những rào cản về thủ tục hành chính đối với môi trường kinh doanh và đời sống của người dân, giúp cắt giảm chi phí và rủi ro của người dân và doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính.

4.1. Nội dung thực hiện cải cách thủ tục hành chính [3]

Cải cách thủ tục hành chính nhằm giải quyết mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước với nhau và cơ quan nhà nước với công dân và tổ chức trong xã hội theo hướng đơn giản, gọn nhẹ và công khai, minh bạch. Những nội dung thực hiện cụ thể đặt ra trong cải cách thủ tục hành chính theo lộ trình sau:

Thứ nhất, đẩy mạnh triển khai có hiệu quả Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước, cải cách thủ tục hành chính giai đoạn 2011-2020 trên phạm vi toàn quốc; các Bộ khẩn trương xây dựng và triển khai các đề án, dự án theo Nghị quyết số 49/NQ-CP ban hành ngày 13/6/2017;

Thứ hai, cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp;

Thứ ba, tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh, giải phóng mọi nguồn lực của xã hội và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, bảo đảm điều kiện cho nền kinh tế của đất nước phát triển nhanh, bền vững. Một số lĩnh vực trọng tâm cần tập trung là: Đầu tư; đất đai; xây dựng; sở hữu nhà ở; thuế; hải quan; xuất khẩu, nhập khẩu; y tế; giáo dục; lao động; bảo hiểm; khoa học, công nghệ và một số lĩnh vực khác do Thủ tướng Chính phủ quyết định theo yêu cầu cải cách trong từng giai đoạn;

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính giữa các cơ quan hành chính nhà nước, các ngành, các cấp và trong nội bộ từng cơ quan hành chính nhà nước;

Thứ năm, kiểm soát chặt chẽ việc ban hành mới các thủ tục hành chính theo quy định của pháp luật.

Thứ sáu, công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính bằng các hình thức thiết thực và thích hợp; thực hiện thống nhất cách tính chi phí mà cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp phải bỏ ra khi giải quyết thủ tục hành chính tại cơ quan hành chính nhà nước; áp dụng công nghệ thông tin vào việc duy trì và cập nhật cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính.

Thứ bảy, đặt ra yêu cầu cải cách thủ tục hành chính ngay trong quá trình xây dựng thể chế, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn và tăng cường đối thoại giữa Nhà nước với doanh nghiệp và nhân dân; mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của các tổ chức và chuyên gia tư vấn độc lập trong việc xây dựng thể chế, chuẩn mực quốc gia về thủ tục hành chính; giảm mạnh các thủ tục hành chính hiện hành; công khai các chuẩn mực, các quy định hành chính để nhân dân giám sát việc thực hiện;

Cuối cùng, tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp về các quy định hành chính để hỗ trợ việc nâng cao chất lượng các quy định hành chính và giám sát việc thực hiện thủ tục hành chính của các cơ quan hành chính nhà nước các cấp.

4.2. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp

Chúng ta đang đứng trước xu thế mở của, hội nhập và hợp tác quốc tế, việc Nhà nước phải đổi mới, cải cách toàn diện để phù hợp với xu hướng chung của thế giới là điều tất yếu. Trong thời gian tới, việc xây dựng bộ máy Nhà nước vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, làm tốt công tác quản lí kinh tế - xã hội cần có các giải pháp sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần thiết lập khuôn khổ chung, ban hành các quy định làm rõ về vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Tiến hành đánh giá các tác động của chính sách các văn bản được soạn thảo.

Thứ hai, Xây dựng khuôn khổ pháp lý nhất quán, đồng bộ, ổn định và đảm bảo thực thi trong thực tế. Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống luật pháp nhằm tạo lập môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Thứ ba, đẩy mạnh việc sửa đổi, bổ sung, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam trên cơ sở đối chiếu, so sánh với các cam kết, chuẩn mực trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, tạo sự phù hợp giữa pháp luật trong nước và quốc tế, đảm bảo thực hiện đúng các cam kết quốc tế trong hội nhập.

Thứ tư, tiến hành rà soát các văn bản hướng dẫn thi hành luật để loại bỏ những văn bản chồng chéo, trái ngược nhau, không phù hợp với thực tế và thiếu tính khả thi; đồng thời, nâng cao chất lượng các văn bản quy phạm pháp luật để có thể có hiệu lực trương đối ổn định trong một thời gian nhất định.

4.3. Thể chế hóa quyền tài sản[4]

Thể chế hóa quyền tài sản bên cạnh việc bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền con người, còn bảo đảm cho hình thành đầy đủ, đồng bộ các chủ thể của kinh tế thị trường, các yếu tố của thị trường vận hành thông suốt, thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế. Trong đó, thể chế hóa tài sản bao gồm 3 nội dung chính là: quyền sở hữu, quyền sử dụng đất và quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài Luật Dân sự, các quy định về quyền tài sản còn được quy định trong nhiều văn bản luật khác, như: Luật Đất đai, Luật Sở hữu trí tuệ, Luật Nhà ở, Luật Công chứng, Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bất động sản,...

Theo báo cáo đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 - 2015 và phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020 của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã xác định những cơ sở lý luận cho việc tiếp tục thể chế quyền tài sản ở nước ta trong giai đoạn hiện nay: ‘‘Nhà nước bảo vệ quyền sở hữu tài sản hợp pháp và quyền tự do kinh doanh của người dân, doanh nghiệp theo quy định của pháp luật; tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, an toàn, thuận lợi...”. Theo đó, để thể chế quyền tài sản là động lực góp phần cho cải cách thể chế kinh tế có thể tham khảo một số khuyến nghị sau:

Thứ nhất, tiếp tục quán triệt các quan điểm của Đảng trong Văn kiện Đại hội XII; cụ thể hóa những tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của thể chế KTTT định hướng XHCN được ghi nhận trong Hiến pháp về quyền sở hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc mọi hình thức sở hữu và thành phần kinh tế...; tôn trọng và bảo đảm thực hiện các quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự;

Thứ hai, ưu tiên tập trung sửa đổi các quy định về đất đai. Phân bổ nguồn lực hợp lí để xây dựng năng lực thể chế trong quản lí và phân bổ đất đai, phù hợp với Hiến pháp và sửa đổi Luật Đất đai hiện hành. Cụ thể: - Phát triển hệ thống thông tin điện tử trong đăng kí và chuyển giao quyền sử dụng đất. - Hình thành cơ chế đấu thầu công khai; Bảo vệ quyền sử dụng đất nông nghiệp; Minh bạch hóa quy hoạch và thủ tục quy hoạch; Bảo đảm thị trường bất động sản hoạt động minh bạch, hiệu quả; Thực thi hiệu quả quyền sử dụng đất; giảm chi phí và thời gian thực hiện tối đa đối với việc ban hành và thực thi điều khoản thế chấp.

Thứ ba, tiếp tục hoàn thiện một cách đồng bộ các quy định về quyền tài sản bao gồm cả xác lập, thực hiện và bảo vệ quyền tài sản;

Thứ tư, quy định cụ thể các quyền tài sản thông thường được sử dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự cũng như có hướng dẫn cụ thể về tài sản hình thành trong tương lai, bao gồm tài sản chưa hình thành và tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời điểm xác lập giao dịch. Cần sớm ban hành nghị định quy định các biện pháp thi hành Bộ luật Dân sự năm 2015 về giao dịch bảo đảm;

Thứ năm, thể chế hóa kịp thời các quan điểm, chủ trương của Đảng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm khuyến khích hoạt động nghiên cứu, sáng tạo; thúc đẩy đổi mới, chuyển giao công nghệ và các giao dịch về tài sản trí tuệ; tăng cường hiệu quả công tác thực thi quyền sở hữu trí tuệ, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế.

4.4. Phát triển đồng bộ các loại thị trường

Xu thế toàn cầu hóa là hiện tượng nổi bật là và xu hướng khách quan của nền kinh tế trên toàn thế giới. Việc phát triển đồng bộ các loại thị trường giúp cho Việt Nam có thể phát huy lợi thế so sánh trong điều kiện hội nhập, tức là tạo ra nền kinh tế hợp lí, năng động thích nghi được với những biến đổi thường xuyên của thị trường khu vực và toàn thế giới. Vì vậy, thực hiện phát triển đồng bộ các loại thị trường góp phần tạo ra nền kinh tế hợp lí, năng động đúng với mục tiêu của cải cách thể chế kinh tế hướng tới.

- Thị trường hàng hóa và dịch vụ

Thứ nhất, cần phát triển thị trường trong nước theo hướng ổn định, văn minh, hiện đại… phù hợp với các xu hướng chung của kinh tế quốc tế. Mở cửa thị trường cho dịch vụ phân phối, nhưng cũng cần phải có lộ trình, để hạn chế những rủi ro cho thị trường nội địa, tạo động lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước.

Thứ hai, tiếp tục tự do hóa thương mại trên cơ sở thực hiện các cam kết song phương, đa phương và theo thông lệ quốc tế; giảm dần các biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan phù hợp với cam kết đã ký kết.

Thứ ba, tạo bước phát triển nhanh, mạnh và toàn diện, có hiệu quả thị trường dịch vụ nhất là những dịch vụ có giá trị gia tăng lớn như: dịch vụ viễn thông, dịch vụ thực hiện phần mềm, dịch vụ tư vấn khoa học kỹ thuật…

- Thị trường tài chính:

Phát huy mạnh mẽ vai trò điều tiết thị trường tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước hiện đại để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững và kiểm soát lạm phát. Tạo môi trường pháp lý thuận lợi, thu hút nhiều loại hình chủ thể tham gia vào thị trường tiền tệ. Hoàn thiện hệ thống luật pháp, cơ chế, chính sách cho sự hoạt động và phát triển lành mạnh của thị trường chứng khoán.

- Thị trường bất động sản: Cần sớm có qui định bắt buộc các tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thực hiện bán nhà và chuyển quyền sử dụng đất các dự án thông qua Sàn giao dịch, Trung tâm giao dịch bất động sản theo Luật Kinh doanh Bất động sản. Để mọi đối tượng có nhu cầu được tiếp cận trực tiếp các thông tin mua bán, hạn chế đầu cơ, mua đi bán lại thu lời bất chính.

- Thị trường lao động:

Đổi mới cơ chế điều tiết quan hệ cung - cầu về số lượng và chất lượng lao động trên thị trường. Hỗ trợ phát triển kinh tế, tạo thêm công ăn việc làm, tham gia vào thị trường lao động khu vực và quốc tế để đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Thúc đẩy việc mở rộng hoạt động giao dịch, trao đổi trên thị trường lao động, thúc đẩy phát triển hệ thống trung tâm giới thiệu việc làm, tạo điều kiện tối đa cho người lao động tìm kiếm việc làm.

- Về thị trường công nghệ:

Thứ nhất, rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành mới những văn bản dưới luật liên quan tới sở hữu trí tuệ cho phù hợp với thông lệ quốc tế và tiến trình hội nhập của Việt Nam. Thứ hai, đổi mới công tác quản lý và tổ chức hoạt động khoa học và công nghệ theo hướng thương mại hóa; Nâng cao năng lực quản lí của bộ máy quản lý nhà nước về tài chính - kế toán trong chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ, thị trường khoa học và công nghệ nhằm tăng cường đóng góp của khoa học và công nghệ vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội.

5. Xu hướng cải cách thể chế kinh tế từ các nước trong cùng khu vực

5.1. Hàn Quốc

Là nước Đông Á tiến hành các biện pháp mạnh mẽ nhất để tổ chức lại hệ thống tài chính, Hàn Quốc đã khẩn trương nghiên cứu những bài học kinh nghiệm quốc tế để xây dựng. Sửa đổi các quy định của nhà nước để bảo đảm sự thích ứng với sự phát triển nhanh chóng của thị trường trên nguyên tắc giảm bớt sự can thiệp của nhà nước và giảm thủ tục, chi phí cho người dân. Hiện nay, tại Hàn Quốc đã xây dựng được mạng lưới hạ tầng thông tin thuộc loại tốt nhất trên thế giới, thiết lập hệ thống xử lý công việc hành chính trong nội bộ thông qua mạng điện tử, cung cấp dịch vụ hành chính thông qua điện thoại di động, công khai hoá việc xử lý các vấn đề của dân, của doanh nghiệp trên mạng… Mặc dù đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng Hàn Quốc vẫn tiếp tục tiến trình cải cách.

5.2. Singapore

Là quốc gia với diện tích nhỏ, dân số ít, nghèo tài nguyên thiên nhiên, nhưng quốc đảo này là một hình mẫu phát triển kinh tế đầy năng động trong nhiều năm qua và được coi là “một con hổ” của châu Á. Sự thần kỳ trong quản lý và phát triển kinh tế của nước này xuất phát từ việc cải cách kinh tế được quan tâm và thực hiện dựa vào cải cách hành chính. Quốc gia này đã đưa tinh thần “doanh nghiệp” vào hoạt động của bộ máy nhà nước mà cốt lõi là lấy hiệu quả làm thước đo; Thành lập Ủy ban hỗ trợ doanh nghiệp nhằm tìm hiểu, đánh giá và đề xuất phương án giải quyết các kiến nghị của doanh nghiệp; Thường xuyên rà soát để loại bỏ những thủ tục rườm rà không còn phù hợp; Đặc biệt chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức, coi đó là giải pháp cơ bản nhất để xây dựng nền công vụ có hiệu quả.

Như vậy, từ những kinh nghiệm trên chúng ta rút ra được bài học rằng cải cách thể chế kinh tế bắt đầu từ thay đổi nhận thức, tiến hành một cách kiên trì, lâu dài và đồng bộ toàn diện. Trong thời đại phát triển vũ bão của công nghệ số và khoa học kỹ thuật là xu thế hội nhập quốc tế thì tăng cường đầu tư phát triển khoa học công nghệ vào hệ thống quản lí hành chính được coi như một trong các giải pháp quan trọng để nâng cao hiệu quả cho lĩnh vực cải cách thủ tục hành chính, làm nền tảng cho cải cách thể chế kinh tế. Suy cho cùng mọi nỗ lực cải cách đều hướng vào mục tiêu phát triển kinh tế, tạo thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp; giảm thiểu các rào cản phát triển của tổ chức, doanh nghiệp thay bằng sự khuyến khích và hỗ trợ.

6. Kết luận

Cải cách thể chế kinh tế là đòi hỏi khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập, cải cách thể chế kinh tế theo định hướng phù hợp hơn, năng động và hiệu quả hơn, có khả năng khơi dậy động lực cho phát triển kinh tế. Bắt đầu từ việc đổi mới tư duy cải cách thủ tục hành chính; hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và hệ thống luật pháp; hoàn thiện thể chế hóa quyền sở hữu; phát triển đồng bộ thị trường là hướng đi tất yếu hỗ trợ cho việc thực hiện cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam. Bên cạnh đó, kinh nghiệm thành công của các nước trong khu vực là bài học cho quá trình thực hiện cải cách thể chế kinh tế ở nước ta rằng đầu tiên phải xuất phát từ nhận thức. Thực hiện tốt cải cách thể chế kinh tế sẽ góp phần tích cực ổn định kinh tế vĩ mô, tạo đột phá về niềm tin của nhân dân và của các tổ chức, doanh nghiệp thúc đẩy công cuộc đổi mới, thực sự tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

ThS. Trần Thị Thanh Thu - Đại học Công nghiệp Thực phẩm TP Hồ Chí Minh

-------------------------------------

Tài liệu trích dẫn:

[1] https://xemtailieu.com/tai-lieu/de-tai-hoan-thien-the-che-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-218397.html [2] https://luattoanquoc.com/khai-niem-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-la-gi-theo-quy-dinh-cua-phap-luat [3] TS. Đinh Duy Hòa (2013), Phần một kiến thức về cải cách hành chính-Chuyên đề 2: Nội dung, nhiệm vụ chủ yếu của chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020, (tr31-32). [4] PGS.TS. Nguyễn Vũ Hoàng (2017), Vấn đề thể chế hóa quyền tài sản trong hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Tài liệu tham khảo:

1.Nghị quyết số 49/NQ-CP 2017 sửa đổi Nghị quyết kiểm soát và thủ tục hành chính https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Nghi-quyet-49-NQ-CP-2017-sua-doi-Nghi-quyet-kiem-soat-va-cai-cach-thu-tuc-hanh-chinh-351997.aspx 2.Nguyễn Thị Thu Hiền (2017). Cải cách hành chính tại một số quốc gia và kinh nghiệm vận dụng vào Việt Nam, http://www.tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/120/416 3.Phạm Thị Hồng Điệp (2013). Hoàn thiện môi trường thể chế kinh tế ở Việt Nam trong quá trình hội nhập quốc tế, http://ieit.edu.vn/vi/thu-vien-tap-chi/tap-chi-kinh-te-doi-ngoai/item/216-hoan-thien-moi-truong-the-che-kinh-te-o-viet-nam-trong-qua-trinh-hoi-nhap-kinh-te-quoc-te.