Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: Những thành tựu, vấn đề đặt ra và định hướng hoàn thiện

Qua các kỳ Ðại hội, Ðảng ta cơ bản hình thành hệ thống quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã hình thành và đạt được những bước phát triển đáng kể, cùng với đó, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Ðảng đã củng cố tiền đề, điều kiện về mọi mặt để đến hôm nay chúng ta có đủ cơ sở tiến hành xây dựng chiến lược tổng thể về "Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030 định hướng đến năm 2045".
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII ra mắt Đại hội. Ảnh: VGP

Nghiên cứu lịch sử lập hiến Việt Nam, có thể thấy rằng, Hiến pháp 1946 do Bác Hồ trực tiếp chỉ đạo soạn thảo, tuy không hề nhắc đến khái niệm pháp quyền hay nhà nước pháp quyền, nhưng là bản Hiến pháp biểu hiện đầy đủ những yếu tố cốt lõi của nhà nước pháp quyền. Hiến pháp 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) là Hiến pháp đầu tiên khẳng định Nhà nước ta là "Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp" (Ðiều 2, Hiến pháp 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001). Ðến Hiến pháp 2013, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được đánh giá là có bước nhảy vọt về chất, tiếp cận đầy đủ hơn những nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền hiện đại.

Cụ thể hóa những nguyên tắc hiến định đó, Nhà nước ta đã có những cố gắng vượt bậc trong xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật vì dân chủ, nhân quyền và sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, thể hiện ở những thành tựu quan trọng, cũng như các vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện.

Một là, đã tạo dựng được về cơ bản cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi nhất quán nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Việc bổ sung nội dung "kiểm soát quyền lực nhà nước" trong nguyên tắc tổ chức, vận hành của nhà nước là một bước đột phá trong bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, đặt quyền lực nhà nước trong giới hạn mà nhân dân ủy quyền, kiểm soát nhằm hạn chế lộng quyền, lạm quyền. Dân chủ được đẩy mạnh, các quyền hiến định của nhân dân, nhất là quyền dân chủ trực tiếp, đã được từng bước cụ thể hóa trong các Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Tín ngưỡng tôn giáo năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo... Quyền dân chủ trực tiếp thông qua hoạt động bầu cử, ứng cử; tham gia vào quản lý nhà nước của nhân dân tiếp tục được củng cố và có những bước tiến quan trọng.

Dân chủ trong kinh tế được phát huy mạnh mẽ, thể hiện ở việc cắt giảm nhiều điều kiện đầu tư, kinh doanh bất hợp lý, bảo đảm cho người dân thực hiện quyền tự do kinh doanh, chủ động tham gia quá trình phát triển kinh tế của đất nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đã thể hiện được vai trò trung tâm phát huy dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, nhất là trong công tác bầu cử, xây dựng pháp luật, giám sát, phản biện xã hội. Nhà nước được cải cách, đổi mới về nhiều mặt, vững mạnh, phòng ngừa và kiểm soát có hiệu quả tình trạng tham nhũng và các biểu hiện tha hóa quyền lực.

Tuy nhiên, để nhân dân thật sự là gốc, là chủ thể của quyền lực nhà nước, rất cần quy định trong Hiến pháp quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân. Hiến pháp 2013 quy định nhân dân có quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, cả về hiến pháp. Hiến pháp 2013 chưa quy định trưng cầu ý dân về Hiến pháp là bắt buộc và vì vậy, cũng chưa quy định điều kiện, thủ tục trưng cầu ý dân về Hiến pháp. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thực hành dân chủ, nghiên cứu để hiến định quyền phúc quyết Hiến pháp của nhân dân.

Hai là, quyền lực nhà nước được phân công hợp lý, được giới hạn chặt chẽ hơn bằng Hiến pháp và luật. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, các cơ quan nhà nước đều được Hiến pháp, luật minh định rõ hơn nhiều so với trước đây, các đạo luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước được ban hành kịp thời với nhiều đổi mới. Quốc hội đã thực hiện quyền lập pháp đạt kết quả ngày càng cao, hoạt động giám sát tối cao có nhiều đổi mới và chất lượng giám sát được nâng cao. Chính phủ coi trọng hoạch định chính sách để quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội. Hoạt động tư pháp được thực hiện theo trình tự, thủ tục chặt chẽ, tăng cường tranh tụng với mục tiêu bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Dư địa để các cơ quan nhà nước, quan chức nhà nước có thể tùy tiện được thu hẹp một cách đáng kể. Nhân dân với tư cách là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước nhận diện rõ hơn trách nhiệm của từng cơ quan nhà nước.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là phải thực hiện phân công thẩm quyền rành mạch hơn nữa, trên cơ sở đó có phương thức phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tránh tình trạng chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ hoặc buông lỏng quản lý và cần có cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước đầy đủ và thật sự chặt chẽ.

Ba là, vị trí tối cao của Hiến pháp và luật được khẳng định. Tất cả các Hiến pháp của nước ta qua các thời kỳ đều thể hiện nhất quán tinh thần Hiến pháp là đạo luật cơ bản, có hiệu lực pháp lý cao nhất; "Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật"; "Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với Hiến pháp. Mọi hành vi vi phạm Hiến pháp đều bị xử lý" và "Quốc hội… Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, các cơ quan khác của Nhà nước và toàn thể Nhân dân có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp" (Ðiều 8 và Ðiều 119, Hiến pháp 2013). Ý thức thượng tôn Hiến pháp và pháp luật được nâng cao khá rõ trong xã hội nói chung và trong bộ máy nhà nước nói riêng; ứng xử của nhà nước đối với xã hội và thị trường đã từng bước bảo đảm theo tinh thần pháp quyền. Pháp luật hiện hành không cho phép cơ quan nhà nước được tự đặt thêm quyền hạn cho chính mình. Các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước, của các quan chức nhà nước, của mọi người dân về cơ bản đều bị xử lý và chịu sự tài phán của tòa án, không thiên vị, không có vùng cấm. Cơ chế bảo vệ Hiến pháp được định hình ngày càng rõ hơn trong các văn bản quy phạm pháp luật. Yêu cầu tuân thủ Hiến pháp, pháp luật là một trong những nguyên tắc quan trọng nhất trong thực thi công vụ.

Tuy nhiên, cơ chế kiểm soát và bảo đảm tuân thủ Hiến pháp vẫn chưa hoàn thiện. Thiếu cơ sở pháp lý để xác định hành vi vi hiến, chưa quy định rõ cơ chế để công dân thực hiện trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp, chưa có phương thức hữu hiệu để giám sát hoạt động lập pháp của Quốc hội nhằm bảo đảm hoạt động này luôn phù hợp với Hiến pháp. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp là yêu cầu cấp bách đáp ứng yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Bốn là, bộ máy nhà nước được quan tâm đổi mới, kiện toàn theo hướng ngày càng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Năng lực của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp ngày càng được nâng cao rõ rệt. Trong đó, tổ chức và hoạt động của các cơ quan tư pháp được xây dựng, hoàn thiện trên cơ sở thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49 của Bộ Chính trị năm 2005. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương được đổi mới theo hướng bảo đảm sự linh hoạt trong mô hình tổ chức ở nông thôn, đô thị, hải đảo và đơn vị hành chính-kinh tế, quy định hệ nguyên tắc phân định thẩm quyền giữa trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương; quyền dân chủ và quyền giám sát của nhân dân đối với hoạt động của chính quyền địa phương được quy định rõ hơn. Sự kiểm soát quyền lực trong thực thi công vụ được tăng cường theo hướng cán bộ, công chức có quyền càng lớn, chức vụ càng cao thì sự kiểm soát quyền lực càng chặt chẽ...

Tuy nhiên, bộ máy nhà nước ta vẫn còn khá cồng kềnh, nhiều tầng nấc, chưa được phân công thật rành mạch, phân quyền chưa đủ mạnh, kiểm soát chưa chặt chẽ. Việc tuyển dụng, sử dụng, đánh giá công chức chưa thật sự theo nguyên tắc chức nghiệp thực tài, chưa dựa trên năng lực của cán bộ. Trách nhiệm giải trình của Nhà nước nói chung, của cán bộ, công chức nhà nước nói riêng trước dân chưa cao; trách nhiệm tập thể, trách nhiệm cá nhân chưa được phân biệt rõ ràng. Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh cải cách bộ máy nhà nước, chú trọng đúng mức đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức dựa trên nguyên tắc chức nghiệp thực tài, phải được xác định là định hướng quan trọng trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.

Năm là, hệ thống pháp luật được xây dựng và hoàn thiện theo hướng ngày càng tiếp cận đầy đủ hơn với yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền. Về mặt nội dung, hệ thống pháp luật nước ta được xây dựng và hoàn thiện ngày càng toàn diện, đầy đủ, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của đất nước.

Tuy nhiên, chất lượng pháp luật chưa cao, trên một số lĩnh vực còn thiếu tính ổn định, tính dự báo chưa cao, sửa đổi nhiều… gây khó khăn nhất định cho quá trình thực hiện. Thực thi pháp luật đang là khâu có nhiều yếu kém, gây bức xúc trong xã hội. Vì vậy, một trong những nhiệm vụ trọng tâm là phải tập trung tạo dựng cho được một hệ thống pháp luật đáp ứng yêu cầu của nguyên tắc pháp quyền, theo đó tinh thần thượng tôn pháp luật, trách nhiệm pháp lý, trách nhiệm phục vụ của nhà nước trước nhân dân được đề cao; pháp luật phải thật sự là môi trường an toàn, lành mạnh, đủ rộng về không gian pháp lý để người dân làm ăn và sinh sống, góp phần làm giàu cho xã hội.

Sáu là, việc ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân đạt được những thành tựu quan trọng. Pháp luật về quyền con người, quyền công dân được quan tâm hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Hiến pháp 2013 đã quy định bảo vệ quyền con người, quyền công dân là nhiệm vụ hàng đầu của các thiết chế trong bộ máy nhà nước.

Tuy nhiên, nhận thức của một số cán bộ, công chức về trách nhiệm bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân chưa ngang tầm với yêu cầu đặt ra; vẫn còn khá nhiều quy định dưới luật hạn chế quyền con người, quyền công dân không phù hợp với Khoản 2, Ðiều 14 Hiến pháp chưa được xóa bỏ; còn thiếu thiết chế chuyên trách bảo vệ, thúc đẩy quyền con người. Vì vậy, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân là định hướng lớn cần được tập trung thực hiện.

Bảy là, nguyên tắc Ðảng Cộng sản lãnh đạo nhà nước và xã hội được khẳng định nhất quán trong lịch sử 70 năm hình thành, phát triển của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa và nay là Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam, được nhân dân thừa nhận trong Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và Hiến pháp 2013.

Thành tựu đạt được trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là minh chứng sinh động để khẳng định rằng, sự lãnh đạo của Ðảng là quy luật của xây dựng chủ nghĩa xã hội, là nhân tố bảo đảm bản chất của dân, do dân, vì dân của nhà nước ta và quyết định sự thành công của công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Vì vậy, việc xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đòi hỏi Ðảng phải nâng cao năng lực, trách nhiệm trước dân, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo cho phù hợp.

Qua các kỳ Ðại hội, Ðảng ta cơ bản hình thành hệ thống quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Trên thực tế, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đã hình thành và đạt được những bước phát triển đáng kể, cùng với đó, hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Ðảng đã củng cố tiền đề, điều kiện về mọi mặt để đến hôm nay chúng ta có đủ cơ sở tiến hành xây dựng chiến lược tổng thể về "Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045".

GS,TS. Hoàng Thế Liên

...