Vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển xã hội

Thứ 6, 20/11/2020 14:11 (GMT+7)

Một số quan niệm, khái niệm chung về quản lý phát triển xã hội

Quản lý phát triển xã hội chủ yếu là hoạt động quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, ngoài nhà nước còn có các tổ chức phi nhà nước cũng tham gia quản lý phát triển xã hội trong việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, các chính sách và pháp luật của nhà nước, qua đó bảo đảm cho mọi người dân cũng như toàn bộ đời sống xã hội phát triển một cách bình thường, không để làm nảy sinh các vấn đề lớn về xã hội.

Sự phát triển xã hội là thuộc về tất cả mọi người, do mọi người trong xã hội tự quyết định và không phải là của riêng một ai; do đó, khi bàn luận về quản lý phát triển xã hội, cần hướng tới lợi ích chung của đại đa số người dân. Do đó, quản lý phát triển xã hội cần luôn gắn với yêu cầu bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, công bằng và bình đẳng nói riêng, cũng như tiến bộ xã hội nói chung.

Ở cấp quốc gia, quản lý phát triển là trách nhiệm chủ yếu của nhà nước. Trong quản lý phát triển, hầu hết nhà nước trên thế giới quản lý các hoạt động xã hội một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Quản lý phát triển xã hội là công việc rất khó khăn, cực kỳ phức tạp và cần phải quản lý có phương pháp, nghệ thuật thì mới đem lại hiệu quả và thành công cho nhà nước. Như vậy, quản lý phát triển xã hội là nội dung quan trọng và là nhiệm vụ chủ yếu của quản lý xã hội ở một quốc gia.

Còn đối tượng quản lý phát triển xã hội là các thiết chế xã hội và các hoạt động của các thiết chế đó. Trong thực tế, đối tượng của quản lý phát triển xã hội chính là các thiết chế xã hội và các hoạt động của các thiết chế đó. Ngay cả thiết chế xã hội thấp nhất ở cơ sở cũng ít khi quản lý con người cá nhân, mà chỉ tập trung vào quản lý hoạt động của cá nhân với trách nhiệm cao nhất là đưa ra cảnh báo bởi các quy định của pháp luật. Thực tiễn cũng cho thấy, quản lý phát triển xã hội có hiệu quả sẽ góp phần mang lại tự do cho con người[1].

Vai trò của Nhà nước trong quản lý phát triển xã hội

Ảnh minh họa

Quan niệm, khái niệm và thực trạng về quản lý phát triển xã hội ở nước ta thời gian qua

Theo một số nhà khoa học ở nước ta thì : “Quản lý phát triển xã hội là hoạt động quản lý của nhà nước và các tổ chức phi nhà nước trong việc triển khai thực hiện đường lối, chủ trương, các chính sách và pháp luật, nhằm đảm bảo cho toàn bộ đời sống xã hội phát triển bình thường, không làm nảy sinh các vấn đề xã hội”. Ngoài ra, họ còn cho rằng, quản lý phát triển xã hội là “Chìa khóa điều chỉnh sự vận hành toàn bộ hệ thống xã hội là đường lối, luật pháp và chính sách. Khi luật pháp nghiêm và công minh, quản lý tốt là quản lý để tuân thủ luật pháp; sự điều chỉnh được hạn chế tối đa. Khi luật pháp chưa hoàn thiện, thiếu công minh, ý thức pháp luật của dân chúng thấp, sự điều chỉnh cho hợp lý hoặc tối ưu là cần thiết; trường hợp này vai trò của người quản lý vô cùng quan trọng. “Lách luật” để phát triển cũng là một cách thức điều chỉnh đã từng tồn tại ở nhiều quốc gia”[2].

Một số nhà khoa học và chuyên gia khác lại cho rằng: “Quản lý phát triển xã hội là sự tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý đến các khách thể (con người, cộng đồng, các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội,…) nhằm mục tiêu phát triển xã hội bền vững.”[3]

Trong thực tế, Nhà nước ta được Hiến pháp năm 2013 quy định rõ là Nhà nước “của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” và là Nhà nước “quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật”.

Quản lý xã hội của Nhà nước ta là một quá trình, với nghĩa rộng là bao hàm chủ yếu về quản lý giáo dục, y tế, văn hoá, khoa học nói chung và một số lĩnh vực liên quan, ảnh hưởng cũng như tác động không nhỏ đến chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, dân tộc, tôn giáo của đất nước. Theo chiều hướng phát triển đất nước, quản lý xã hội của Nhà nước chính là quản lý phát triển xã hội, bảo đảm cho nước ta phát triển bền vững,  bao trùm, với chất lượng tăng trưởng không chỉ về kinh tế, mà bao gồm cả xã hội, vì mục tiêu trên hết là cho con người và vì con người.

Cũng theo nhiều chuyên gia, nhà quản lý ở nước ta, Nhà nước đã và đang sử dụng các công cụ pháp luật, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và bộ máy của mình để quản lý tất cả các hoạt động kinh tế - xã hội, môi trường cũng như quản lý các nguồn tài nguyên quốc gia. Qua đó, Nhà nước quản lý phát triển xã hội, góp phần vào quản lý các hoạt động đối nội và các hoạt động đối ngoại của Nhà nước ta, trong đó có quản lý các hoạt động xã hội và quản lý các hoạt động phát triển xã hội[4].

Thực trạng ở nước ta hiện nay cho thấy, Việt Nam được đánh giá là có sự ổn định chính trị và ổn định xã hội ở mức cao. Các quy định pháp luật của Nhà nước nói chung là tương đối đầy đủ để triển khai việc quản lý phát triển xã hội.

Tuy nhiên, hiệu lực của Nhà nước nói chung là chưa đủ mạnh để thực hiện có hiệu quả trong thực tế việc quản lý phát triển xã hội. Nhà nước vẫn quản lý phát triển xã hội chủ yếu theo phương thức bao cấp trách nhiệm dân sự của công dân hay nói cách khác là vẫn đang hành chính hóa các quan hệ dân sự; vì vậy, có thể nói phương thức quản lý này là chưa phù hợp với tính chất, đặc điểm của nền kinh tế thị trường và làm bộ máy quản lý hành chính của Nhà nước ta ngày càng cồng kềnh hơn[5].

Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XII đã nhấn mạnh về những hạn chế và yếu kém của Nhà nước trong quản lý phát triển xã hội:

“Quản lý phát triển xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội còn nhiều hạn chế, khuyết điểm. Sự phát triển các lĩnh vực, các vùng, miền thiếu đồng bộ. Việc giải quyết một số vấn đề xã hội chưa hiệu quả; mục tiêu xây dựng quan hệ hài hòa giữa các lĩnh vực, ngành nghề, vùng, miền chưa đạt yêu cầu; giảm nghèo chưa bền vững, chênh lệch giàu - nghèo và bất bình đẳng có xu hướng gia tăng. Chưa nhận thức đầy đủ vai trò của phát triển xã hội hài hòa, chưa có chính sách, giải pháp kịp thời, hiệu quả đối với vấn đề biến đổi cơ cấu, phân hóa giàu - nghèo, phân tầng xã hội, kiểm soát rủi ro, giải quyết mâu thuẫn xã hội, bảo đảm an toàn xã hội, an ninh cho con người”[6].

Trong Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ :“ Quản lý phát triển xã hội và giải quyết một số vấn đề xã hội chưa được quan tâm đúng tầm; chưa kết hợp đồng bộ, chặt chẽ trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa; thể chế, quản lý xã hội còn nhiều bất cập; tình trạng gia tăng tội phạm, tệ nạn xã hội; tiêu cực xã hội, mâu thuẫn xã hội… gây bức xúc trong dư luận nhân dân. Chưa có giải pháp để xử lý hữu hiệu những vấn đề về kiểm soát thu nhập, phân hóa giàu – nghèo, gia tăng bất bình đẳng, kiểm soát và xử lý các mâu thuẫn xã hội, xung đột xã hội phát sinh; giảm nghèo còn chưa bền vững…”[7]

Thực tế cho thấy, ngay trong nửa cuối năm 2020, nhất là dưới tác động của đại dịch Covid-19 và bão lũ ở miền Trung, việc quản lý phát triển xã hội ở nước ta đã bộc lộ rõ hơn những yếu kém, hạn chế trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, y tế, trật tự an toàn, an ninh và an sinh xã hội, lao động và việc làm, bảo trợ xã hội,…[8] 

Có thể thấy ngay một trong những nguyên nhân chủ quan và là nguyên nhân chủ yếu về công tác quản lý phát triển xã hội của Nhà nước ta còn những hạn chế, yếu kém trong thời gian qua là do việc chậm tiến hành phân cấp, cũng như chưa phân chia rõ ràng quyền lực và trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương. Hơn nữa, sự phân chia hay tập trung quyền lực và trách nhiệm giải trình ở một số cơ quan quản lý nhà nước còn chưa thống nhất và cụ thể hoá, dẫn đến hiệu lực và hiệu quả trong quản lý phát triển xã hội của Nhà nước còn thấp.

Một số đề xuất, kiến nghị

(1) Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện, thể chế hoá và cụ thể hơn chức năng xã hội của Nhà nước để Nhà nước thực sự là chủ thể đặc biệt quản lý xã hội và quản lý phát triển xã hội, phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước, bảo đảm sớm hiện thực hoá mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

(2) Để quản lý phát triển xã hội có hiệu quả, trước hết Nhà nước ta cần có cơ chế, các quy định pháp luật để xây dựng và hoàn thiện các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công và cạnh tranh bình đẳng với nhau, qua đó mang lại lợi ích lớn nhất cho người dân, đặc biệt là các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công phi lợi nhuận; khuyến khích các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công cho xã hội, trước hết là các dịch vụ ở đô thị, dần tiến tới là dịch vụ ở nông thôn mà chủ yếu trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học công nghệ và kỹ thuật, cũng như hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ thông tin thị trường, khuyến nông, khuyến ngư,…

Trong thời gian tới, trên cơ sở hoàn thiện các quy định pháp luật, Nhà nước chỉ nên tập trung vào thực hiện vai trò, chức năng giám sát hoạt động của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công.

(3) Để quản lý phát triển xã hội có chất lượng hơn, Nhà nước cần có một tổ chức đánh giá chất lượng độc lập, để bảo đảm đánh giá khách quan và kiểm soát đối với cơ quan quản lý nhà nước thực hiện chức năng giám sát hoạt động các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ công.

Ngoài ra, quá trình quản lý phát triển xã hội của Nhà nước chỉ có thể bảo đảm chất lượng khi mà Nhà nước tạo điều kiện rộng rãi cho các tổ chức cũng như mọi thành viên trong xã hội tham gia chủ động và tích cực vào phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội.

(4) Trong quản lý phát triển xã hội ở nước ta, Nhà nước cần tập trung đẩy nhanh việc tiến hành phân cấp, cũng như phân chia rõ ràng hơn quyền lực và trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương.

Tuy nhiên, việc phân chia hay tập trung quyền lực và trách nhiệm phải bảo đảm sự thống nhất, tạo hiệu lực và hiệu quả cao cho phát triển, đồng thời tránh được việc phân tán, lãng phí nguồn lực, hay buông lỏng quản lý.

(5) Trong thời gian tới, hoạt động quản lý phát triển xã hội ở nước ta cần được Nhà nước triển khai rộng rãi hơn thông qua việc sử dụng, ứng dụng công nghệ hiện đại./.

Nguyễn Hồng Sơn - Hội đồng Lý luận TW    


[1] Bộ Khoa học và Công nghệ, Chương trình KX.01/06-10, PGS. TSKH. Võ Đại Lược (Chủ biên), Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 2011

[2] GS. TS Nguyễn Đăng Thuấn (chủ biên), Mô hình quản lý phát triển xã hội ở nước ta hiện nay, Chuyên đề số 10, Hà Nội - 2018.

[3] GS. TS. Phùng Hữu Phú - PGS. TSKH. Nguyễn Văn Đặng - PGS. TS Nguyễn Viết Thông, Tìm hiểu một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng,  Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội – 2016, tr260.

[4] PGS. TS. Ngô Doãn Vịnh, Giải thích thuật ngữ trong nghiên cứu phát triển (Bối cảnh và điều kiện của Việt Nam), Nhà Xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội – 2013, tr54.

[5] Bộ Khoa học và Công nghệ, Chương trình KX.01/06-10, PGS. TSKH. Võ Đại Lược (Chủ biên), Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, Nhà Xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội – 2011

[6] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb. CTQG. Tr. 132-139

[7] Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 4-2020), Dự thảo Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; tr. 16.

[8] Ban Chấp hành Trung ương, Kết luận Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đản khóa XII về tình hình kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước năm 2020; phương hướng, nhiệm vụ năm 2021, ngày 22-10-2020; tr.3.