Tóm tắt: Bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo trong bối cảnh đổi mới giáo dục, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Bài viết phân tích sự tác động của các yếu tố đến hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp, từ đó bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại Nhà trường theo hướng bảo đảm chất lượng đào tạo, tăng cường gắn kết doanh nghiệp, hiện đại hóa quản trị và đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong giai đoạn mới.
Từ khóa: giáo dục nghề nghiệp, pháp luật, thực hiện pháp luật, Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ.
Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở Trường Cao đẳng Nghề kỹ thuật công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Việt Nam. Ảnh minh họa - TTXVN
1. Sự cần thiết phải thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở Việt Nam
Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) năm 2025: “pháp luật hiện hành điều chỉnh toàn bộ các hoạt động từ xây dựng chương trình, tuyển sinh, đào tạo, bảo đảm chất lượng đến ứng dụng khoa học, công nghệ và quản lý Nhà nước”[1]. Quy định này cho thấy GDNN không chỉ là dạy nghề nghĩa hẹp, mà là một hệ thống hoạt động tổng hợp mang tính giáo dục và kinh tế - xã hội sâu sắc, góp phần hình thành đội ngũ lao động kỹ năng cao phục vụ đất nước. Từ nhận thức đó, việc thực hiện pháp luật về GDNN là một yêu cầu khách quan mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng qua 6 khía cạnh:
Một là, bảo đảm quyền học tập và cơ hội phát triển của người dân
Trong xã hội hiện đại, học nghề là phương thức để cá nhân nâng cao năng lực, cải thiện thu nhập và thích ứng với thị trường lao động. Thực hiện nghiêm túc pháp luật sẽ bảo đảm cho người học quyền tiếp cận thông tin tuyển sinh, điều kiện học tập, các chính sách hỗ trợ và giá trị văn bằng, chứng chỉ.
Hai là, phát triển nguồn lao động kỹ năng cao gắn với nhu cầu xã hội
Luật GDNN 2025 xác định nguyên tắc hoạt động phải đáp ứng mục tiêu phát triển nhân lực chất lượng cao, gắn kết đào tạo với thị trường lao động. Pháp luật đòi hỏi quá trình đào tạo phải tạo ra năng lực nghề nghiệp thực chất cho người học, thay vì chỉ tập trung vào việc cấp "bằng cấp".
Ba là, khắc phục tình trạng đào tạo chưa gắn liền với thực tiễn
Hạn chế "nặng lý thuyết, nhẹ thực hành" từng được Nghị quyết 29-NQ/TW nhận diện. Việc thực hiện đúng pháp luật sẽ giúp chuyển dịch tư duy từ "đào tạo theo khả năng của nhà trường" sang "đào tạo theo nhu cầu của người học, doanh nghiệp và thị trường"[2], kiểm soát chặt chẽ từ chuẩn đầu ra đến thực tập sản xuất và hỗ trợ việc làm.
Bốn là, tăng cường trách nhiệm của doanh nghiệp và xã hội
Luật GDNN 2025 dành riêng một chương quy định quyền, trách nhiệm và cơ chế liên kết đầu tư của doanh nghiệp[3]. Điều này thể hiện sự thay đổi lớn: GDNN đòi hỏi sự tham gia thực chất từ doanh nghiệp – chủ thể trực tiếp sử dụng lao động và am hiểu nhu cầu sản xuất chứ không chỉ là trách nhiệm riêng của Nhà nước hay nhà trường.
Năm là, thúc đẩy quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và bảo đảm chất lượng
Luật năm 2025 xác định nguyên tắc tự chủ toàn diện cho các cơ sở GDNN không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính. Tuy nhiên, tự chủ không phải là buông lỏng quản lý mà đi đôi với công khai, minh bạch, kiểm định chất lượng và chịu sự giám sát, kiểm tra từ cơ quan có thẩm quyền.
Sáu là, triển khai hiệu quả Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045
Quyết định số 2239/QĐ-TTg ngày 30/12/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt chiến lược phát triển GDNN trong giai đoạn này, thể hiện định hướng dài hạn của Nhà nước đối với việc phát triển hệ thống GDNN[4]. Để chiến lược này đi vào cuộc sống, pháp luật chính là khuôn khổ và việc thực hiện pháp luật nghiêm túc chính là điều kiện biến mục tiêu chính sách thành kết quả thực tế.
Như vậy, thực hiện pháp luật về GDNN tại Việt Nam là yêu cầu tất yếu để xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp. Quá trình này đóng vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy tự chủ và chuyển đổi số, phục vụ trực tiếp cho mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
2. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
2.1. Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế trong GDNN bao gồm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, chính sách học phí, học bổng và khả năng huy động nguồn lực xã hội. Đây là nền tảng cốt lõi quyết định hiệu quả thực hiện pháp luật về GDNN, từ khâu tuyển sinh, đào tạo, phát triển đội ngũ đến liên kết doanh nghiệp. Theo Luật GDNN, việc thực thi pháp luật không chỉ là chấp hành quy định hành chính, mà đòi hỏi phải có nguồn lực vật chất tương ứng để triển khai trong thực tế.
Đối với Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ, đặc thù đào tạo gắn liền với thực hành và việc làm đòi hỏi rất cao về cơ sở vật chất, xưởng thực hành, thiết bị công nghệ và vật tư. Nếu không được đầu tư đồng bộ, Nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đảm bảo chương trình đào tạo, thời lượng thực hành và chuẩn đầu ra. Khác với giáo dục lý thuyết thuần túy, GDNN hướng tới mục tiêu "làm được việc"[5]. Thiếu hụt điều kiện kinh tế sẽ khiến việc dạy nghề dễ rơi vào tình trạng "nặng lý thuyết, nhẹ thực hành", học viên khó tiếp cận công nghệ mới và kỹ năng nghề không đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động.
Bên cạnh đó, yếu tố kinh tế ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng thu hút người học. Trong bối cảnh tâm lý chuộng đại học còn phổ biến, các chính sách về học phí hợp lý, học bổng, ký túc xá và thực tập có hưởng lương là điều kiện quan trọng để nâng cao sức hút của GDNN. Việc Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ công khai minh bạch các chính sách hỗ trợ này sẽ giúp bảo đảm quyền lợi người học, đồng thời nâng cao hiệu quả tuyển sinh và chất lượng đào tạo.
Cuối cùng, điều kiện kinh tế tác động lớn đến đội ngũ nhà giáo và viên chức. Khi chế độ tiền lương, phụ cấp, thu nhập và môi trường làm việc được bảo đảm, nhà giáo mới có thể yên tâm công tác, đổi mới phương pháp và nâng cao chất lượng giảng dạy. Ngược lại, nếu thu nhập và điều kiện làm việc hạn chế, nhà trường sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc thu hút giáo viên giỏi, chuyên gia kỹ thuật và kỹ sư thực hành từ doanh nghiệp tham gia đào tạo.
2.2. Yếu tố chính trị, quản lý Nhà nước và cơ chế tổ chức thực hiện
Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với chiến lược phát triển nguồn nhân lực, giải quyết việc làm và an sinh xã hội, chịu sự chi phối mạnh mẽ bởi đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước. Đảng đã định hướng chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực, học đi đôi với hành[6]. Từ năm 2025, lĩnh vực GDNN có sự thay đổi lớn khi các đơn vị liên quan được chuyển về Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý, buộc các trường phải chủ động cập nhật mô hình, hệ thống văn bản và yêu cầu quản trị mới.
Sự rõ ràng, kịp thời của hệ thống chỉ đạo từ cơ quan quản lý Nhà nước là điều kiện tiên quyết để Nhà trường thực thi pháp luật thuận lợi. Ngược lại, văn bản chậm ban hành hoặc thay đổi liên tục sẽ gây khó khăn lớn. Ở cấp cơ sở, hiệu quả thực hiện pháp luật phụ thuộc vào năng lực lãnh đạo của Đảng ủy, Hội đồng trường, Ban Giám hiệu và việc cụ thể hóa các quy định thành quy chế nội bộ rõ ràng. Nếu chỉ đạo thiếu quyết liệt, phân công chồng chéo sẽ dẫn đến việc thực hiện mang tính hình thức. Trong bối cảnh chuyển mạnh sang tự chủ theo Luật GDNN, Nhà trường cần chủ động xây dựng cơ chế quản lý hiện đại, phân quyền rõ ràng, tăng cường kiểm tra và công khai minh bạch thông tin để đạt hiệu quả cao nhất.
2.3. Yếu tố văn hóa - xã hội và nhận thức của người học, gia đình, doanh nghiệp
Yếu tố văn hóa - xã hội ảnh hưởng sâu sắc đến việc thực hiện pháp luật về GDNN. Hiện nay, tâm lý coi trọng bằng cấp đại học hơn kỹ năng nghề của một bộ phận phụ huynh và học sinh vẫn tồn tại. Định kiến này khiến các quy định pháp luật về phân luồng, hướng nghiệp, tuyển sinh và các chính sách hỗ trợ người học tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ khó phát huy tối đa hiệu quả.
Bên cạnh đó, nhận thức của doanh nghiệp về trách nhiệm tham gia GDNN đóng vai trò quyết định đến mục tiêu gắn kết đào tạo với thị trường lao động. Dù Luật GDNN tiếp tục nhấn mạnh vai trò này, nhưng nếu doanh nghiệp chỉ coi đây là việc riêng của Nhà trường mà không chủ động chia sẻ chi phí, thiết bị, chuyên gia hay vị trí thực tập thì việc thực thi pháp luật sẽ không đạt hiệu quả như kỳ vọng.
Đối với người học tại Nhà trường, văn hóa học nghề còn gắn liền với tác phong công nghiệp, ý thức kỷ luật, thái độ nghiêm túc và tinh thần hợp tác. Nếu học viên thiếu ý thức tự giác, xem nhẹ thực hành thì chất lượng đào tạo, kết quả đánh giá và chuẩn đầu ra sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp.
Cuối cùng, công tác truyền thông đúng đắn đóng vai trò then chốt giúp xã hội thay đổi nhận thức, nhìn nhận học nghề là một hướng đi thiết thực với cơ hội việc làm ổn định. Việc Nhà trường công khai, minh bạch và truyền thông trung thực về thông tin tuyển sinh, lợi thế ngành nghề và cam kết việc làm trên cổng thông tin điện tử sẽ góp phần củng cố niềm tin của người học lẫn cộng đồng vào hệ thống GDNN.
2.4. Yếu tố pháp luật
Hiệu quả thực hiện pháp luật tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng của hệ thống pháp luật. Hệ thống này cần đảm bảo tính đầy đủ, thống nhất, đồng bộ và khả thi. Ngoài Luật GDNN, hoạt động của Nhà trường còn chịu sự điều chỉnh của nhiều văn bản liên quan khác (như Luật Giáo dục, pháp luật về viên chức, ngân sách, đấu thầu, an toàn lao động, chuyển đổi số). Do đó, sự chồng chéo, chậm hướng dẫn hoặc thay đổi quá nhanh từ các văn bản này sẽ tạo áp lực rất lớn cho nhà trường khi áp dụng.
Yếu tố pháp luật còn thể hiện ở năng lực "nội luật hóa" các quy định chung thành hệ thống quy chế nội bộ của Trường (như quy chế tổ chức, đào tạo, tuyển sinh, tài chính, kiểm định chất lượng). Nếu hệ thống quy chế nội bộ được ban hành đầy đủ, rõ ràng và phù hợp, cán bộ, giảng viên và học sinh sẽ dễ dàng thực hiện. Ngược lại, nếu quy chế thiếu, chậm sửa đổi hoặc không thống nhất với quy định mới sẽ gây lúng túng trong công tác quản lý và tổ chức đào tạo.
Bên cạnh đó, ý thức pháp luật của các chủ thể đóng vai trò then chốt.Cụ thể đối với cán bộ quản lý được thể hiện qua việc ban hành quyết định đúng thẩm quyền, công khai, minh bạch và giải quyết công việc đúng quy trình; Giáo viên phải thực hiện đúng chương trình đào tạo, bảo đảm giờ giảng, đánh giá đúng năng lực người học và tuân thủ đạo đức nhà giáo; Đối với người học thể hiện thông qua việc chấp hành nghiêm túc nội quy, quy chế đào tạo, quy định thi, thực hành và an toàn lao động.
Cuối cùng, xu hướng trao quyền tự chủ nhiều hơn hiện nay luôn phải gắn liền với trách nhiệm giải trình. Nhà trường bắt buộc phải thực hiện nghiêm túc việc công khai, minh bạch thông tin tuyển sinh, điều kiện cơ sở vật chất, học phí, chất lượng đội ngũ và tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp để đảm bảo uy tín và quyền lợi người học.
2.5. Yếu tố khoa học - công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế
Trong bối cảnh Cách mạng công nghệ 4.0, thị trường lao động thay đổi nhanh chóng đòi hỏi GDNN phải liên tục cập nhật. Đối với Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ, việc thực hiện pháp luật GDNN phải gắn liền với yêu cầu đổi mới chương trình, hiện đại hóa thiết bị xưởng, ứng dụng mô phỏng và nâng cao thời lượng thực hành để đáp ứng chuẩn đầu ra, giúp người học không bị tụt hậu.
Chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu quy định trong Luật GDNN, đòi hỏi Nhà trường thay đổi phương thức quản trị toàn diện chứ không dừng lại ở việc trang bị máy tính. Trường cần tập trung số hóa hồ sơ người học, xây dựng hệ thống quản lý đào tạo điện tử, văn bằng số, học liệu số và ứng dụng phần mềm trong kiểm tra đánh giá. Nếu hạ tầng mạng, bảo mật chưa đáp ứng hoặc năng lực số của đội ngũ cán bộ, nhà giáo còn hạn chế thì việc thực thi pháp luật sẽ gặp khó khăn. Ngược lại, một nền tảng số đồng bộ sẽ nâng cao hiệu quả quản lý, giảm thủ tục hành chính và tăng chất lượng đào tạo.
Vấn đề hội nhập quốc tế mở ra cơ hội nhưng cũng mang lại nhiều thách thức lý do Việt Nam tham gia sâu vào các hiệp định thương mại tự do. Để người học đạt chuẩn kỹ năng khu vực và quốc tế, nhà trường phải nâng cao năng lực ngoại ngữ, kỹ năng mềm và tác phong công nghiệp cho học viên; đồng thời mở rộng hợp tác với doanh nghiệp nước ngoài. Quá trình tiếp nhận chương trình, giáo trình, chuyên gia hay mô hình đào tạo từ nước ngoài đòi hỏi nhà trường phải tuân thủ nghiêm túc pháp luật về sở hữu trí tuệ, đầu tư và tài chính. Hội nhập vừa là động lực, vừa là khuôn khổ pháp lý buộc nhà trường phải tự nâng cao chất lượng đào tạo.
2.6. Yếu tố về đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và người học
Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý và người học là những chủ thể trực tiếp thực hiện pháp luật về GDNN, đóng vai trò quyết định hiệu quả thực thi pháp luật tại Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ.
Đối với cán bộ quản lý: Việc thực hiện pháp luật thể hiện qua năng lực tổ chức, điều hành và kiểm soát các hoạt động của Nhà trường. Nếu thiếu am hiểu pháp luật và năng lực tổ chức, họ dễ làm phát sinh sai sót trong ban hành văn bản nội bộ, quản lý đào tạo, tài chính, tuyển sinh và giải quyết quyền lợi người học.
Đối với nhà giáo: Trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề và đạo đức nghề nghiệp là cốt lõi. Nhà giáo giỏi chuyên môn, vững kỹ năng và có ý thức pháp luật cao sẽ giúp hoạt động đào tạo, đánh giá, an toàn lao động đạt hiệu quả. Ngược lại, việc chậm đổi mới và thiếu kinh nghiệm thực tế sẽ làm ảnh hưởng tiêu cực đến thực hiện pháp luật.
Đối với người học: Ý thức chấp hành quy chế học tập, rèn luyện và quy định tại nơi thực tập là yếu tố quyết định. Sự thiếu kỷ luật, thiếu tác phong công nghiệp sẽ làm giảm chất lượng đào tạo, uy tín nhà trường và hiệu quả hợp tác với doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, môi trường giáo dục dân chủ, kỷ cương, minh bạch giúp các chủ thể tự giác thực hiện pháp luật. Ngược lại, nếu công tác phổ biến pháp luật hạn chế, xử lý vi phạm thiếu nghiêm minh sẽ làm suy giảm ý thức pháp luật của các chủ thể.
3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về giáo dục nghề nghiệp ở Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo
Thứ nhất, tăng cường quán triệt, phổ biến và tổ chức thực hiện đầy đủ các quy định pháp luật về giáo dục nghề nghiệp. Công tác tuyên truyền pháp luật cần thiết thực, dễ hiểu và được cá nhân hóa theo từng nhóm đối tượng cụ thể:
Đối với cán bộ quản lý: Tập trung vào thẩm quyền quản trị, tổ chức bộ máy, quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình, quản lý tài chính, tài sản công, kiểm định chất lượng, công khai thông tin và hợp tác đào tạo.
Đối với nhà giáo: Phổ biến quy định về chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, kiểm tra, đánh giá, quản lý lớp học, đạo đức nhà giáo, an toàn thực hành, thực tập và bảo vệ quyền lợi người học.
Đối với học sinh, sinh viên: Tập trung vào quyền và nghĩa vụ của người học, quy chế đào tạo, thi cử, thực tập doanh nghiệp, học phí, học bổng, kỷ luật học đường, an toàn lao động và văn bằng, chứng chỉ.
Nhà trường cần đa dạng hóa hình thức phổ biến, không chỉ dựa vào hội nghị hay văn bản hành chính mà phải cụ thể hóa thành tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ, quy trình nội bộ, chuyên mục hỏi - đáp trên cổng thông tin điện tử, các buổi sinh hoạt công dân đầu khóa, sinh hoạt chuyên môn định kỳ. Cách làm này giúp pháp luật trở thành công cụ điều chỉnh hành vi thường xuyên, tránh tình trạng đối phó khi có thanh kiểm tra hoặc khi phát sinh vi phạm.
Thứ hai, rà soát, sửa đổi và hoàn thiện hệ thống quy chế, quy định nội bộ của Nhà trường
Trước hết, Nhà trường cần rà soát toàn bộ hệ thống văn bản nội bộ hiện hành (quy chế tổ chức, hoạt động, làm việc, đào tạo, tuyển sinh, công tác học sinh sinh viên, tài chính, quản lý tài sản, hợp tác doanh nghiệp, quản lý văn bằng chứng chỉ...). Những nội dung không còn phù hợp với Luật GDNN và các văn bản hướng dẫn thi hành cần được sửa đổi kịp thời; bổ sung các khoảng trống quản lý để bảo đảm nguyên tắc rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, rõ quy trình và rõ trách nhiệm giải trình. Việc phân công không rõ đơn vị chủ trì, phối hợp hay thời hạn xử lý sẽ dễ dẫn đến chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm. Mỗi quy trình quản lý phải xác định rõ: ai làm, làm việc gì, thời hạn bao lâu, căn cứ vào văn bản nào, kết quả kiểm tra và trách nhiệm cá nhân nếu xảy ra sai sót.
Mặt khác, hoàn thiện quy chế nội bộ là điều kiện để thực hiện quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình. Luật GDNN yêu cầu tăng cường tự chủ nhưng phải trong khuôn khổ pháp luật, gắn liền với công khai, minh bạch. Trường cần xây dựng quy chế công khai thông tin toàn diện về tuyển sinh, ngành nghề, chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, đội ngũ, cơ sở vật chất, học phí, chính sách hỗ trợ, kết quả kiểm định và tỷ lệ việc làm sau tốt nghiệp để người học, phụ huynh và xã hội cùng giám sát.
Thứ ba, bảo đảm nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và thiết bị đào tạo gắn với yêu cầu thực hành nghề
Đặc thù GDNN đòi hỏi việc thực hiện pháp luật phải gắn liền với điều kiện tài chính, cơ sở vật chất, xưởng thực hành và thiết bị đào tạo. Đối với Trường Cao đẳng nghề Kỹ thuật Công nghệ, các ngành nghề kỹ thuật, công nghệ yêu cầu hệ thống máy móc, phần mềm và phòng học chuyên môn phải được đầu tư, cập nhật thường xuyên. Nếu cơ sở vật chất không đáp ứng thì việc thực hiện các quy định về chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, thời lượng thực hành và an toàn lao động sẽ khó đạt hiệu quả.
Trường cần xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn và hằng năm có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các ngành nghề có nhu cầu tuyển sinh và nguồn nhân lực lớn, phù hợp định hướng phát triển chất lượng cao, có uy tín trong đào tạo, nghiên cứu và chuyển giao công nghệ. Bên cạnh ngân sách Nhà nước, Trường cần chủ động huy động nguồn lực xã hội hóa thông qua hợp tác với doanh nghiệp (đặt hàng đào tạo, liên kết thực tập, tài trợ thiết bị, xây dựng xưởng mô phỏng). Việc huy động này phải đảm bảo công khai, minh bạch, đúng quy định tài chính, đấu thầu nhằm giúp Trường cập nhật công nghệ mới và đáp ứng tiêu chuẩn thị trường lao động.
Thứ tư, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo, viên chức và người lao động
Nâng cao chất lượng đội ngũ là giải pháp có ý nghĩa lâu dài, quyết định hiệu quả thực hiện pháp luật.
Đối với cán bộ quản lý: Tăng cường bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng quản trị hiện đại (đào tạo, tài chính, tài sản công, viên chức, hợp tác doanh nghiệp, chuyển đổi số, bảo mật dữ liệu, sở hữu trí tuệ). Hiểu đúng pháp luật giúp các quyết định quản trị đúng thẩm quyền, đúng quy trình và hạn chế rủi ro pháp lý.
Đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp: Chú trọng đồng thời ba năng lực: chuyên môn, kỹ năng nghề và sư phạm nghề nghiệp. Nhà giáo cần hướng dẫn người học thực hành, rèn luyện tác phong công nghiệp, an toàn lao động và thích ứng với doanh nghiệp. Trường cần có kế hoạch đưa nhà giáo đi thực tế tại doanh nghiệp, cập nhật công nghệ mới, tham gia hội giảng để nâng cao năng lực và đổi mới phương pháp giảng dạy.
Đối với viên chức, người lao động: Sai sót trong thực hiện pháp luật thường do chưa nắm vững quy trình, biểu mẫu, thời hạn hoặc thiếu kỹ năng xử lý tình huống. Vì vậy, việc bồi dưỡng theo vị trí việc làm, gắn với tình huống cụ thể sẽ thiết thực và hiệu quả hơn tập huấn chung chung.
Thứ năm, đổi mới chương trình đào tạo, phương thức đào tạo và tăng cường gắn kết với doanh nghiệp
Trường cần rà soát, cập nhật chương trình đào tạo theo hướng phát triển năng lực thực hiện, tăng cường thực hành, thực tập, đào tạo theo dự án và đánh giá theo chuẩn đầu ra dựa trên khảo sát nhu cầu thị trường. Trong nhiệm kỳ 2025 - 2030, Trường đặt mục tiêu đổi mới chương trình và xây dựng chuẩn đầu ra cho 14 ngành nghề, mở rộng hợp tác doanh nghiệp để tạo điều kiện thực tập cho người học.
Đồng thời, phát triển mô hình đào tạo gắn kết với doanh nghiệp từ khâu xây dựng chuẩn đầu ra, chỉnh sửa chương trình, mời chuyên gia giảng dạy, tiếp nhận học sinh thực tập đến tuyển dụng. Các thỏa thuận hợp tác phải cụ thể hóa bằng văn bản, xác định rõ quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên về điều kiện an toàn lao động, chế độ hỗ trợ và cơ hội việc làm. Bên cạnh kỹ năng nghề, Trường cần chú trọng giáo dục kỹ năng mềm, kỹ năng số, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động và ý thức pháp luật cho người học.
Thứ sáu, đẩy mạnh chuyển đổi số, xây dựng cơ sở dữ liệu và hiện đại hóa quản trị nhà trường
Luật Giáo dục nghề nghiệp đặt ra yêu cầu phát triển cơ sở dữ liệu, học liệu số và ứng dụng công nghệ trong quản lý. Chuyển đổi số tại Trường không chỉ là sử dụng phần mềm mà là đổi mới phương thức quản trị, quản lý đào tạo và phục vụ người học.
Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu thống nhất (về người học, nhà giáo, chương trình, văn bằng, cơ sở vật chất...) được cập nhật thường xuyên, bảo đảm chính xác, an toàn và phân quyền truy cập rõ ràng để phục vụ công tác quản lý, báo cáo, công khai minh bạch.
Số hóa quy trình quản lý (đào tạo, tuyển sinh, thu học phí, cấp giấy xác nhận, quản lý thực tập, văn bằng, phản hồi kiến nghị) giúp giảm thủ tục hành chính, hạn chế sai sót và tạo thuận lợi cho người học. Phát triển các kênh trực tuyến để cung cấp thông tin, tư vấn và hỗ trợ học tập.
Phát triển học liệu số và phương thức đào tạo kết hợp (blended learning), số hóa các nội dung lý thuyết, mô phỏng để người học chủ động học tập, giúp nhà giáo tập trung vào hướng dẫn thực hành và đánh giá kỹ năng.
Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng phần mềm quản lý, dạy học trực tuyến và bảo mật thông tin cho đội ngũ nhằm thực hiện chuyển đổi số thực chất.
Thứ bảy, nâng cao hiệu quả công tác truyền thông, tuyển sinh, hướng nghiệp và thay đổi nhận thức xã hội về học nghề
Công tác truyền thông phải làm rõ giá trị thực chất của học nghề: học nghề không phải là con đường thấp hơn đại học, mà là một hướng đi phù hợp với năng lực, sở trường của nhiều người và nhu cầu thị trường. Truyền thông cần nhấn mạnh các lợi thế: học thực hành, thời gian đào tạo hợp lý, khả năng có việc làm cao, cơ hội liên thông và phát triển nghề nghiệp lâu dài. Thông tin truyền thông phải chính xác, đúng pháp luật, không thổi phồng cam kết việc làm hoặc gây hiểu lầm về văn bằng, học phí, chính sách hỗ trợ.Bên cạnh đó, Trường cần tăng cường phối hợp với các trường THCS, THPT, trung tâm giáo dục tại địa phương và doanh nghiệp để thực hiện hướng nghiệp toàn diện. Công tác hướng nghiệp cần giúp người học hiểu rõ ngành nghề, yêu cầu kỹ năng, môi trường làm việc, lộ trình học tập và cơ hội phát triển. Khi người học lựa chọn nghề trên cơ sở hiểu đúng, quá trình học tập sẽ nghiêm túc hơn, tỷ lệ bỏ học giảm và chất lượng đào tạo được nâng cao./.
CN Đoàn Linh Hoa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025
- Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
- Quyết định số 2239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045
- Quyết định 596/QĐ-BGDĐT năm 2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2022), Giáo trình Lí luận chung về Nhà nước và pháp luật, NXB Tư pháp, Hà Nội
- Nguyễn Hùng (2026), Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng, thách thức và giải pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân (điện tử)
[1] Điều 1 Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025
[2] Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”
[3] Chương VI Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025
[4] Quyết định số 2239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
[5] Nguyễn Hùng (2026), Pháp luật về giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam: Thực trạng, thách thức và giải pháp, Tạp chí Tòa án nhân dân (điện tử)
[6] Điều 1 Quyết định 596/QĐ-BGDĐT năm 2025 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên
