Thực tế ở không ít cơ sở giáo dục, chất lượng dường như được cân đong bằng độ dày hồ sơ phục vụ mỗi đợt kiểm định, chu kỳ đánh giá hơn là những gì diễn ra trong lớp học hay kết quả thực của người học. Đó là “căn bệnh” của một hệ thống quản lý quá nặng về thủ tục giấy tờ. Khi hồ sơ chất đống lên, bảo đảm chất lượng rất dễ trượt khỏi mục tiêu cải tiến để biến thành một cuộc chạy “kiểm định”. Nhà trường khi ấy không còn tập trung trả lời câu hỏi chất lượng đang ở đâu, mà lo trả lời câu hỏi minh chứng đã đủ chưa.

Ảnh minh họa - TL
Giá trị từ quản lý bằng dữ liệu
Không khó nhận thấy một số hạn chế hiện nay trong công tác quản trị chất lượng. Việc chính của giáo viên là dạy, theo dõi sự tiến bộ của người học, điều chỉnh cách dạy và hỗ trợ người học, nhưng thực tế lại kéo họ vào vòng quay của sổ sách, biểu mẫu, kế hoạch, minh chứng và báo cáo. Việc hành chính hóa công việc nhà giáo khiến thời gian dành cho chuyên môn bị đứt đoạn, chuyển sang lo những buổi tập huấn viết báo cáo tự đánh giá và trình diễn. Mặt khác, cách đánh giá lấy giấy tờ làm trung tâm rất dễ nuôi bệnh thành tích hình thức. Nếu công việc kiểm định vẫn nặng về đếm minh chứng hơn là nhìn vào hoạt động thật của nhà trường, rất dễ xuất hiện một “màn diễn” có kịch bản. Hồ sơ có thể được chuẩn bị đẹp, nhưng chưa đủ bảo đảm rằng lớp học đang tốt lên, người học tiến bộ hơn hay nhà trường thật sự biết tự sửa những điểm yếu của mình. Ở tầm hệ thống, kiểu quản lý ấy còn sinh ra một nghịch lý khác: Báo cáo thì nhiều mà thông tin dùng được lại ít. Thông tin nằm rải rác ở nhiều nơi, mỗi nơi một kiểu, không liên thông, khó đối chiếu; nhiều báo cáo vẫn được chắp vá thủ công qua vài ba tầng nấc, vừa chậm vừa dễ sai. Vì vậy, cơ quan quản lý khó thấy sớm chỗ nào đang có vấn đề để can thiệp cho đúng.
Chuyển từ quản lý bằng hồ sơ sang quản lý bằng dữ liệu vì thế không chỉ là chuyện kỹ thuật. Đó là thay đổi cách nhìn về chất lượng. Hồ sơ thường cho thấy nhà trường muốn trình bày gì; thông tin vận hành cho thấy nhà trường đang thật sự diễn ra chuyện gì. Tỷ lệ chuyên cần giảm ở nhóm lớp nào, kết quả học tập tụt ở học phần nào, sinh viên bỏ học tăng ở giai đoạn nào, khiếu nại tập trung ở khâu nào, đội ngũ biến động ra sao, điều kiện bảo đảm chất lượng xuống ở đâu, những câu hỏi đó chỉ có thể trả lời rõ khi hệ thống có những chỉ báo đủ tin cậy.
Giá trị đầu tiên của cách làm này là giúp nhìn đúng vấn đề, thay vì nhìn vào bộ minh chứng đã được chuẩn bị sẵn. Các con số không thay thế đánh giá chuyên môn, nhưng buộc đánh giá chuyên môn phải bám vào những tín hiệu thật hơn. Khi tỷ lệ bỏ học tăng, kết quả học tập giảm theo cụm lớp, khiếu nại kéo dài, giáo viên biến động mạnh, hoặc cơ sở vật chất xuống cấp nhưng chậm khắc phục, nhà quản lý không thể tiếp tục nói chung chung rằng “mọi việc cơ bản ổn”.
Cùng với đó là khả năng cảnh báo sớm. Thay vì đợi đến cuối kỳ, cuối năm hay đến mùa kiểm định mới lục lại minh chứng để xem có chuyện gì đã xảy ra, nhà trường và cơ quan quản lý có thể nhận ra dấu hiệu bất thường ngay trong quá trình vận hành. Đó mới là giá trị thật của quản trị chất lượng: Phát hiện sớm để sửa sớm, thay vì để sai lệch kéo dài rồi cuối cùng hợp thức hóa bằng một bộ minh chứng đẹp.
Muốn vậy, thông tin phải được chuẩn hóa, liên thông, cập nhật đều và đủ tin cậy để dùng cho quản lý. Khi hệ thống đã có cấu trúc và được cập nhật thường xuyên, nhà trường không cần mỗi lần đánh giá lại huy động cả bộ máy ngồi “sản xuất minh chứng”; cơ quan quản lý cũng đỡ phải đọc những báo cáo dài mà nghèo thông tin.
Kinh nghiệm từ các nghiên cứu về bảo đảm chất lượng thế giới cũng gợi ý cho ta cách tư duy mới: Hễ Nhà nước ôm gần hết, nhà trường làm theo kiểu bị động, doanh nghiệp đứng ngoài, giáo viên và người học gần như không có tiếng nói, thì hệ thống sẽ nặng về kiểm soát hơn là cải thiện. Khi đó, bảo đảm chất lượng không phải việc của nhà trường mà thành việc “đối phó cho qua cửa”.
Bởi vậy, điều cần hơn là kết nối được tự đánh giá bên trong với đánh giá bên ngoài. Đánh giá ngoài là cần, nhưng nó chỉ có nghĩa khi buộc nhà trường nhìn ra vấn đề của chính mình và sửa thật. Còn nếu tự đánh giá chỉ là khâu gom giấy tờ để chờ đoàn ngoài, thì mọi thứ vẫn đâu đóng đấy.
Đánh giá theo rủi ro, không kiểm kê minh chứng
Từ các chỉ báo vận hành, có thể chuyển sang đánh giá theo rủi ro và theo địa chỉ. Một hệ thống tốt không bắt mọi trường, mọi chương trình, mọi đơn vị chạy cùng một vòng thủ tục với cùng một cường độ kiểm tra. Nó phải chỉ ra nơi nào đang ổn thì giảm thủ tục, nơi nào có tín hiệu bất thường thì tập trung kiểm tra sâu. Cách làm đó vừa đỡ tốn nguồn lực, vừa công bằng hơn, vì không bắt những đơn vị làm tốt phải gánh cùng một gánh thủ tục như những nơi có nhiều vấn đề. Đó là quản trị thông minh và linh hoạt.
Các nền tảng quản lý học tập, hồ sơ học tập số, cơ sở dữ liệu ngành, bảng điều khiển cảnh báo sớm nếu được thiết kế tốt có thể giúp giảm việc nhập lặp dữ liệu, theo dõi chuyên cần, phát hiện nguy cơ bỏ học và nhận ra bất thường trong vận hành. Nhưng giá trị của các công cụ ấy nằm ở chỗ chọn đúng vài chỉ số đủ cốt lõi để nhận ra vấn đề và buộc hệ thống phải hành động. Nhà quản lý không cần tìm kiếm trong một mê cung tài liệu thống kê để rồi cuối cùng vẫn quyết theo cảm tính. Cái họ cần là vài tín hiệu đủ rõ để nhận ra chỗ nào có rủi ro.
Công tác thanh tra, kiểm tra và đánh giá ngoài cũng cần thay đổi cách làm. Nếu đoàn đánh giá vẫn chủ yếu ngồi dò từng biểu mẫu, đếm từng minh chứng, hỏi cho đủ bộ hồ sơ, thì nhà trường sẽ tiếp tục dồn sức vào việc “trưng bày” hơn là cải tiến chất lượng. Chỉ khi đánh giá ngoài chuyển sang đọc tín hiệu vận hành, nhìn dấu hiệu bất thường, kiểm tra theo rủi ro và đối thoại vào đúng chỗ yếu của nhà trường thì tự đánh giá bên trong mới có ý nghĩa.
Theo cách tiếp cận này đòi hỏi chuẩn thông tin phải rõ, hệ thống phải liên thông, quyền riêng tư phải được bảo vệ, phân quyền phải minh bạch, người dùng phải được tập huấn và kinh phí phải đủ cho vận hành lâu dài.
Muốn làm thật, trước hết cần rút gọn bộ chỉ số chất lượng cốt lõi cho từng cấp học, từng loại hình cơ sở giáo dục. Sau đó là liên thông giữa các hệ thống, giảm tối đa việc nhập đi nhập lại một thông tin ở nhiều chỗ. Tiếp nữa là đổi cách đánh giá: Bớt soi minh chứng trình diễn, tăng đọc, diễn giải thông tin vận hành, kiểm tra theo rủi ro và chỉ xuống tận nơi ở những điểm có tín hiệu bất thường.
Vai trò của đoàn đánh giá ngoài cũng phải thay đổi vì thông tin của nhà trường đã được cập nhật, chuẩn hóa, đối chiếu trên hệ thống. Khi ấy, nhiệm vụ của đoàn không còn kiểm đếm giấy tờ mà tập trung nhìn vào dấu hiệu lệch lạc, truy đến tận gốc vấn đề, xem nhà trường có năng lực tự sửa hay không và sửa bằng cách nào.
Có thể nói, quản trị chất lượng dựa trên dữ liệu chỉ có ý nghĩa khi nó tiết kiệm thời gian cho giáo viên nhiều hơn, giúp phát hiện vấn đề, ra quyết định nhanh, giám sát đúng, hiệu quả cao và buộc nhà trường thể hiện trách nhiệm giải trình rõ ràng hơn.
Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã đặt ra đòi hỏi giáo dục phải thực chất thì cách quản lý cũng phải rời khỏi lối làm hình thức. Giám sát và ra quyết định trên cơ sở dữ liệu là cách tiếp cận thực tế hơn để nhìn ra chất lượng thật. Khi con số biết nói, chất lượng thật sẽ hiện ra; và khi chất lượng thật đã hiện ra, rất khó tiếp tục quản lý bằng cảm tính hay né tránh trách nhiệm giải trình.
Dữ liệu không nên đi theo lối “càng nhiều càng tốt”, mà phải “đúng cái cần biết”. Các chỉ báo được theo dõi thường xuyên cũng làm rõ hơn trách nhiệm giải trình. Khi thông tin còn nằm rải rác trong giấy tờ, rất dễ xảy ra chuyện nói chung chung, đổ lỗi vòng quanh hoặc né tránh trách nhiệm. Khi con số đã hiện lên theo thời gian, theo đơn vị, theo nhóm người học và theo từng chỉ số cụ thể, việc giải thích cũng phải cụ thể hơn, trách nhiệm cũng khó lẩn tránh hơn.
TS Hoàng Ngọc Vinh
